CÁC GIAI THOẠI VỀ
CÁC NHÂN VẬT NAM Kỳ LỤC TỈNH
Phần 4: CÔ BA TRÀ, HUÊ KHÔI NAM KỲ
Hứa Hoành
Tài
liệu để viết bài nầy gồm nhiều
loại có xuất xứ khác nhau, chúng tôi sưu tầm và
lưu giữ trong nhiều năm. Trước hết là
tư liệu do một người bạn vong niên là
cụ Nguyễn Văn Vực cung cấp, hay kể lại
trực tiếp. Cụ Vực là một người
đam mê các chuyện cổ, có trí nhớ phi thường,
nhứt là những chuyện cụ nghe, thấy ở Nam
Kỳ. Tài liệu của cụ chỉ thua cụ
Vương Hồng Sển mà thôi. Cụ Nguyễn Văn
Vực từng giữ chức Chánh sự vụ Sở
thông tin đô thành Sài Ṣn dưới thời Tổng
Thổng Ngô Đ́nh Diệm, và từng ra ứng cửa dân
biểu Quốc Hội khoá I (1956) với dấu hiệu
"Cái Nón Lá". Tổng kết số phiếu cụ
đứng hạng nh́ sau ông Hà Như Chi, người
của chính quyền.
Tài
liệu mới nhứt là quyển "Sài G̣n
tạp-pín-lù" của cụ Vương Hồng Sển,
mới xuất bản bên nhà, do nhà văn Phạm Thăng
nhă ư cho mượn. Mới đây do một sự t́nh
cờ may mắn, tôi lại quen được với
một gia đ́nh là thân nhân của Cậu Tư
Phước George, đó là ông bà Thái K.C. Tôi đến
tận nhà để được nghe ông bà kể
nhiều chi tiết về cuộc đời "Cậu
Tư Phước George", xem nhiều h́nh ảnh liên quan
mà ông bà c̣n giữ được, cũng như các giai thoại
về cuộc ăn chơi của Cậu Tư lúc qua Pháp
du lịch. Ông bà Thái K.C. là cháu của bà kế mẫu
Cậu Tư Phước George, tức bà thứ thất
của ông Đốc Phủ Lê Công Sủng, thân phụ
Cậu Tư Phước George, tức Lê Công Phước.
Khi du học bên Tây, Cậu Tư có một người
bạn đồng hành, đó là ông Thái Minh Phát, em của bà
thứ thất kể trên. Theo vai vế trong gia đ́nh,
Cậu Tư phải gọi ông Thái Minh Phát bằng
"cậu" v́ em của mẹ (mẹ ghẻ). Tôi
rất tiếc không t́m thấy h́nh Cậu Tư trong
những tấm ảnh hiếm hoi của gia đ́nh
nầy.
Trong
chương I, tức phần bối cảnh chung của
lịch sử Nam Kỳ vào mấy thập niên đầu
của thế kỷ 20 chúng tôi sử dụng một
phần lớn trong quyển sách nhan đề "The
French present in Cochinchina and Cambodia" của tác giả
Milton E. Osbone, tiến sĩ sử học Đông Nam Á
tại đại học đường Cornell.
Ngoài ra
c̣n nhiều tài liệu rời rạc khác hoặc do chính
một người trong cuộc kể lại (công tử
Út Nhu), một số sách báo cũ.
Tác
giả xin trân trọng gởi đến quư vị có
phương danh nêu trên ḷng biết ơn chân thành. Riêng
với độc giả mặc dầu đă cố
gắng nhiều, nhưng chắc chắn chúng tôi không
khỏi thiếu sót, sai lầm không cố ư, kính xin quư
vị niệm t́nh tha thứ và chỉ dạy thêm, chúng tôi
xin đa tạ..
Chương Một
BỐI CẢNH NAM KỲ VÀO MẤY THẬP NIÊN
ĐẦU THẾ KỶ 20
Tất
cả những sự kiện được viết
lại trong bài nầy đều xảy ra vào những
năm sau Thế Chiến Thứ Nhứt (1914-18), cho
tới khi Thế Chiến Thứ Hai bắt đầu
(1939-45). Các chi tiết trong chương bối
cảnh, sẽ đề cập rơ ràng đến sự
giàu có lớn nhờ ruộng đất của các ông
đại điền chủ vi chánh sách nâng đỡ
của người Pháp, và nhứt là thế lực cũng
như đặc quyền của các ông Hội đồng
quản hạt Nam Kỳ. Những điều đó,
cùng với việc đào kinh, gia tăng diện tích lúa
trúng mùa sẽ giúp chúng ta nhận ra cái không khí ăn chơi
của con cái nhà giàu, và góp phần cắt nghĩa hiện
tượng đặc biệt của xă hội Nam Kỳ,
một hiện tượng độc đáo mà
trước đó và sau đó không bao giờ có. Trong
chương nầy, chúng ta sẽ nhận thấy nguồn
gốc sâu xa của sự biến đổi xă hội nông
nghiệp Nam Kỳ thành một nền kinh tế hàng hoá
phồn thịnh kỳ lạ vào các năm 1927, 1928, 1929.
Cái
bối cảnh giao thời giữa hai nền văn hoá
mới cũ đă tạo ra những hiện tượng
ít ai tiên đoán được. Cùng một ḷ sản
xuất, nhưng người thanh niên thời ấy
trở thành những kiểu mẫu khác nhau. Giàu có
lớn, tiền bạc dư thừa, những gia đ́nh ấy
có cuộc sống xa xí, tạo ra một hạng
người ngồi không ăn chơi thoả thích: Công
tử. Về mặt khác như chính trị, kinh tế,
văn hoá, chúng tôi chỉ lược qua các sự kiện
tiêu biểu. Về lịch sử, chính trị chúng tôi nói ít
v́ có nhiều sách báo đề cập rồi, nói nhiều
sẽ nhàm chán. Trong phần kinh tế, chúng tôi sẽ
kể một số chi tiết về những hăng
xưởng đầu tiên do người Pháp lập ra
ở Nam Kỳ. Chúng tôi cũng kể sơ lược các
nhà giàu lớn ở vài tỉnh miền Nam thời đó..
Họ làm giàu nhờruộng đất, đồn
điền, mở xí nghiệp...có tài sản lớn.
Chính họ và lớp con cháu họ đă tạo ra một
hiện tượng mới, làm biến đổi xă
hội miền Nam hồi Tây mới qua. Về giáo dục,
chúng tôi sẽ nói chi tiết hơn. Lóp thanh nhiên
Việt Nam đầu tiên du học bên Algérie, bên Pháp vào
cuối thế kỷ 19 là những ai? Những
người Việt Nam đầu tiên nhập tịch Pháp
là những người nào?
Lớp
con cháu họ sẽ đóng những vai tṛ chính trị quan
trọng trong thế hệ kế tiếp. Đó là
lớp trí thức mới, hấp thụ văn hoá Tây
phương, thay thế cho lớp nho sĩ cũ đang
tàn tạ dần. Tùy theo lănh vực, cá tính, hoàn cảnh
mà họ sẽ là những nhà nghiên cứu, công chức
(chủ quận, Hội Đồng, Cai tổng...) hay công
tử ăn chơi, hay trở thành những thanh niên yêu
nước, có lư tưỏng, tích cực hoạt
động chống Pháp trong giai đoạn mới.
Lớp thanh niên mới c̣n là những luật sư, bác
sĩ, kỹ sư, chánh án, Hội Đồng địa
hạt...Trước hết về chính trị, từ khi
Thế Chiến Thứ Nhứt chấm dứt, thuộc
địa Nam Kỳ bước qua một giai đoạn
mới: giai đoạn khai thác kinh tế của
người Pháp. So với Bắc và Trung, đời
sống dân Nam Kỳ cao hơn, và cũng khá hơn từ
những năm trước. Thời kỳ nầy Nam
Kỳ rất ổn định. Chỉ trong thập
niên đầu của thế kỷ 20, nhờ các kinh
đào mà diện tích đất canh tác ở Nam Kỳ
tăng gấp đôi. Trong khi chiến tranh 1914-18, hàng
hoá của Pháp bị gián đoạn với các thuộc
địa.
Tại
Việt Nam, nhiều người Việt giàu, có sáng
kiến, dám bỏ vốn làm ăn nhiều ngành khắp Sài
G̣n và Nam Kỳ Lục Tỉnh. Thắng lợi của
Pháp trong Thế Chiến I làm gia tăng ảnh hưởng
và uy tín của họ tại thuộc địa Đông
Dương. Nhiều người Việt tin rằng
Pháp sẽ nới rộng chính sách cai trị cho phù hợp
với nguyện vọng và công ơn của dân chúng
Việt Nam đă góp tiền, góp xương máu để
họ chiến thắng. Nếu như ở miền
Trung và miền Bắc có những cuộc khởi
nghĩa lẻ tẻ mà cao điểm là cuộc khởi
nghĩa của Việt Nam Quốc Dân Đảng tại
Yên Bái, th́ tại Nam Kỳ, các phong trào tranh đấu giành
độc lập không c̣n xuất hiện dưới h́nh
thức cũ nữa. Con cái các điền chủ
được qua Pháp du học tăng dần. Lớp
thanh niên mới, hấp thụ văn hoá Pháp chính là
những người lănh đạo các phong trào tranh
đấu chống thực dân ở miền Nam. Khi
chọn thanh niên bản xứ cho qua Pháp, dĩ nhiên họ
lựa những con cháu các người đă có công và trung
thành với họ, để đào tạo thành những
tay sai đắc lực. Tuy nhiên, cũng có những
trường hợp cây đắng sanh trái ngọt.
Cậu Hai Miêng (Huỳnh Công Miêng), con trai Lănh binh Huỳnh
Công Tấn về nước một thời gian, bất
hợp tác với Pháp, c̣n chống đối Pháp tiêu
cực. Một trường hợp điển h́nh
khác là ông Nguyễn Thế Truyền, cháu của Tuần
phủ Thái B́nh Nguyễn Duy Hân. Mặc dầu ông
nội cậu, Nguyễn Duy Hân là một người thân
Pháp, nhưng sau khi thành tài, Nguyễn Thế Truyền
trở thành một nhà cách mạng, suốt đời hy
sinh cho lư tưởng.
Thấy
phương pháp tranh đầu cũ lỗi thời,
thất bại như cuộc khởi nghĩa non nớt
của Phan Xích Long, phong trào Đông Du... đều bị
đàn áp dă man, lớp thanh niên tân học áp dụng câu
"lấy độc trị độc". Học
văn hoá Pháp để chống lại người
Pháp. Biến cố vua Khải Định, băng hà
ở Huế không làm cho dư luận Nam Kỳ chú ư.
Họ rất thờ ơ. Tuy vậy, dân chúng miền
Nam rất hăng say tranh đấu đ̣i ân xá cho cụ
Phan Bội Châu và nhứt là biểu dương sức
mạnh hùng hậu trong lễ quốc táng nhà ái quốc Phan
Chu Trinh. Sống dưới chế độ thuộc
địa gần 50 năm, Nam Kỳ có nhiều thói quen,
tập quán và tự do hơn Bắc và Trung Kỳ. Trong
hai thập niên 1920-30, chúng ta thấy có mấy biến
cố chính tiêu biểu:
-
Trước tiên là hội kín Nguyễn An Ninh (1900-43). Sinh
trong một gia đ́nh có truyền thống cách mạng,
Nguyễn An Ninh là một thanh niên có lư tưởng cao
cả và suốt đời đam mê phục vụ cho lư
tưởng ấy. Từ bỏ phú quư, từ bỏ
nếp sống quen thuộc của hạng con nhà giàu,
nhứt là sau khi đậu Cử nhân Luật khoa ở Pháp
về, Nguyễn An Ninh cương quyết từ bỏ
sự cám dỗ của quan trường mà Pháp hứa
hẹn, ông lập ra một phong trào quần chúng, nông dân
để cải tổ xă hội. Ông là nhà cải cách
xă hội đầu tiên dựa vào lực lượng lao
động. Ông chỉ trích chế độ của Pháp,
đồng thời kêu gọi cải tạo xă hội phong
kiến của ta. Theo ông, văn minh động đích Tây
phương có thể kết hợp với văn minh
tĩnh chỉ Đông phương. Phong trào, hay hội
kín Nguyễn An Ninh bắt đầu từ bài diễn
văn "Cao vọng của thanh niên" tại
trụ sở Hội Khuyến Học ở Sài G̣n vào
năm 1923. Xuất phát từ Hóc Môn, Bà Điểm,
nhưng phong trào bành trướng mạnh ở các tỉnh
miền Nam nhưTân An, Mỹ Tho, Vĩnh Long, Trà Vinh.
Hội kín Nguyễn An Ninh cũng gây tiếng vang lớn,
được nhiều người tham gia làm cho thực
dân Pháp điên đầu.
-
Kế tiếp là cuộc tiếp đón ông Bùi Quang Chiêu, lănh
tụ đảng Lập Hiến vào năm 1926.
Cuộc tiếp đón đó có một ư nghĩa chính
trị trọng đại và tầm mức to lớn.
Tập họp sức mạnh và biểu dương ư chí
tranh đấu trước mặt thực dân. Lần
đầu tiên, thanh niên trí thức Nam Kỳ dám tập
họp thành đám đông (60000 người), giương
cao những tấm biểu ngữ và hô to những khẩu
hiệu đ̣i tự do, dân chủ. Dịp nầy, thanh
niên cũng làm áp lực với Pháp:
"
Hăy thả Nguyễn An Ninh! Hăy thả Nguyễn An Ninh!"
Cuộc
biểu t́nh đón tiếp ông Bùi Quang Chiêu làm cho bọn Tây
thực dân chủ đồn điền, chủ xí
nghiệp tức tối. Chúng ḥ hét la ó, chỉ trích
cả Toàn Quyền A. Varenne.
Vào ngày
24 tháng ba 1926, một lực lượng hùng hậu
nhứt xuống đường dự lễ quốc táng
nhà chí sĩ Phan Chu Trinh. Bắt chước cách tổ
chức lễ quốc táng cho Tôn Trung Sơn năm
trước ở Trung Hoa, lần nầy các tiệm buôn,
hăng xưởng tại Sài G̣n đều đóng cửa, các
công sở nghỉ việc để tang cho cụ Phan.
Hai trăm ngàn người đủ mọi thành phần xă
hội, lặng lẽ theo xe tang tiễn đưa cụ
Phan đến nơi an nghỉ cuối cùng trên nghĩa
trang Tân Sơn Nhứt. C̣n 200 biểu ngữ đ̣i
độc lập, tự do, hứa hẹn nối tiếp
sự nghiệp tranh đấu của cụ Phan.
Nhiều bài điếu văn trở thành diễn văn
cổ vơ cho ḷng ái quốc, kêu gọi mọi người
noi gương tranh đấu của cụ Phan. Những
từ ngữ mới "độc lập",
"tự do", "dân chủ"... được nói
đến trước đám đông lần đầu
tiên.
Măi
đến 10 năm sau, một biến cố xuất phát
từ phía Pháp: Mặt Trận B́nh Dân lên cầm quyền
ở Pháp nới rộng chế độ cai trị
thuộc địa, thả tù chính trị, cải thiện
điều kiện làm việc của công nhân, thợ
thuyền, đă tạo ra một phong trào tranh đấu
khác ở Việt Nam, đó là Đông Dương
đại hội. Mục đích của Đông
Dương đại hội để thu thập ư
kiến, nguyện vọng của mọi từng lớp
dân chúng, tŕnh bày với đại diện của Mặt
Trận B́nh Dân qua Việt Nam điều tra.
Đại biểu của giai cấp tư sản,
đại biểu nhóm Tranh Đấu (La Lutte) ,
đại biểu công nhân, thợ thuyền, nông dân,
phụ nữ đều được mời tham dự.
Chuẩn bị cho Đaị Hội Đông Dương
trong không khí hết sức phấn khởi, nhưng
thực dân ở Nam Kỳ vẫn c̣n ngoan cố.
Thống Đốc Nam Kỳ Henri Rival tiếp kiến các
lănh tụ của phong trào, chọn ngày họp đại
hội (16 tháng 9), nhưng sau đó hắn trở mặt,
cấm nhóm họp. Họ bắt các lănh tụ của
phong trào Đông Dương đại hội như Tạ
Thu Thâu, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Văn Tạo, nhưng sau
đó, do áp lực của Marius Moutet, họ phải thả
các vị ấy. Ở Bắc cũng có phong trào
Đông Dương đại hội, nhưng cũng không
kết quả và phong trào tản ra nhanh chóng.
Cuộc
diễn thuyết kêu goị dân chúng tranh đấu tại
Xóm Lách, vườn bà Đốc Phủ Tài, cô ruột
Nguyễn An Ninh, tuy không thành công, nhưng cũng gây
được tiếng vang lớn.
Thời
kỳ nầy có một vài phần tử Cộng Sản
từ Pháp về hoạt động chui v́ không có ảnh
hưởng và không được quần chúng ủng
hộ. Nguyễn Văn Tạo, Dương Bạch Mai
sống kư sinh tờ báo La Lutte của Tạ Thu Thâu và
Trần Văn Thạch, đó là nhóm Tranh Đấu.
C̣n yếu th́ liên hiệp, hợp tác để tồn
tại: đó là sách lược của Cộng Sản.
Tạ Thu Thâu là một gương mặt chính trị
lớn của miền Nam, quê ở Long Xuyên, du học bên
Pháp. V́ tham dự cuộc biểu t́nh trước
điện Élysée đ̣i ân xá cho các lănh tụ cuộc
khởi nghĩa Yên Bái, nên bị trục xuất về
nước. Trần Văn Thạch là một thanh niên
trí thức, thông minh, đậu Cử nhân Giáo khoa Văn
chương tại đại học Sorbonne. Nhóm Tranh
Đấu cũng gồm thêm Nguyễn Văn Sổ, Phan
Văn Hùm, Phan Văn Chánh... là những thành phần ưu tú
của xă hội bấy giờ. Nhóm Tranh Đấu
ứng cử Hội Đồng Quản Hạt Nam Kỳ
và Hội Đồng Thành Phố Sài G̣n, đắc cử
vẻ vang với 80% cử tri dồn phiếu cho
họ, chứng tỏ dư luận rất ủng
hộ. Trong khi cán bộ Cộng Sản như Tạo,
Mai c̣n núp trong bóng tối hoạt động lén lút, tuyên
truyền lừa bịp và phá hoại các tổ chức
chống Pháp của người quốc gia.
Về
báo chí, thời kỳ nầy có gần 40 tờ báo, nhưng
chúng tôi xin kể những tờ báo tiêu biểu như:
-
Đông Pháp thời báo 1924-28
- Tân Dân
báo
-
Đuốc Nhà Nam 1928-37
-Phụ
Nữ Tân Văn 1929-34
-Thần
Chung (Tiếng chuông buổi sớm) 1929-33 ...
Nếu
kể về khuynh hướng, chúng ta thấy:
-
Về chính trị có báo La Lutte, La Cloche Fêlée, L'Annam, La Tribune
Indochinoise...
-
Về nghệ thuật văn chương có : Sài Thành
nhựt báo (1930-31), Văn Học tuần san (1934-1937),
Tiểu Thuyết Thứ Sáu (1935), Tiểu Thuyết Nam
Kỳ (1935), Sài G̣n Ngọ báo (1935-1936), Tuần báo Nghệ
Thuật...
-
Về phụ nữ, ngoài Phụ Nữ Tân Văn c̣n có :
Đàn Bà Mới, Nữ Lưu, Nữ Công tạp chí
(1936-1938), Nữ Giới...
Thuở
đó, các văn nhơn kư giả tiếng tăm
thường lui tới các nhà hàng Đông Pháp lữ quán, Nam
Đồng Hưng, Lục Tỉnh khách lầu, Đỗ
Văn B́nh Hôtel, Cửu Long Giang khách sạn ... Họ
thường tới vào buổi chiều, thảo luận
tin tức, ăn uống, nghe đờn ca ra bộ,
tiền thân của Cải lương ngày nay. Trong
số các người làm báo nổi tiếng thời đó,
người ta hay gặp các ông Nguyễn Tử Thức ,
chủ bút "Nam Trung tuần báo", Lê Sum tự
Trường Mậu, bỉnh bút tờ Công Luận, Lăo
Ngạc Nguyễn Viên Kiểu, Dù Thúc Lương Khắc
Ninh, cựu Hội Đồng Quản Hạt, cũng là
bầu gánh hát.
Về
kinh tế, Nam Kỳ bước qua một giai đoạn
mới phát triển lạ lùng. Biến cố thứ
nhứt là do ảnh hưởng cuộc khai hoang
đất đai miền Tây, làm cho Nam Kỳ thịnh
vượng hơn bao giờ hết. Việc đào kinh vừa
thay cho việc làm đường lộ, làm gia tăng
diện tích đất canh tác lên nhiều lần. Kinh
đào tới đâu, dân tứ xứ tới đó cắm
dùi làm ruộng, lập vườn, lập làng xóm.
Số lúa gạo do Nam Kỳ sản xuất gia tăng
vượt bực và trở thành món hàng quan trọng
để xuất cảng. Có lúc (1937) Việt Nam
sản xuất trên 3 triệu tấn lúa! Khi hàng hoá lúa
gạo sản xuất gia tăng dĩ nhiên giá trị
đồng bạc Đông Dương mạnh hơn đồng
Phật Lăng (franc) của Pháp. Cũng sau thế
chiến, nhiều người Pháp đem vốn qua lập
đồn điền cao su, cà phê, trong khi người Tàu
nắm độc quyền mua bán lúa gạo.
Một
trong những người Việt đầu tiên biết
làm ăn, có kiến thức Tây học, có tài kinh doanh và thành
công măi đến năm 1975 là ông Trương Văn
Bền. Không tốt nghiệp một trường công
nghệ nào, nhưng vào năm 1918 ông Bền đă lập ra
nhà máy ép dầu dừa tại Chợ Lớn, sử
dụng 70 công nhơn bản xứ, tiêu thụ hàng năm
1500 tấn cùi dừa khô. Năm 1925, hăng xà bông Trương
Văn Bền ra đời (sau nầy gọi là hăng xà bông
Việt Nam), xưởng đặt phía bên hông chợ Kim
Biên, sản xuất một loại xà bông thơm lừng
danh khắp Đông Dương : Xà bông Cô Ba!
Các ông
Lê Phát An, Lê Phát Thanh, Lê Phát Vĩnh, con ông Huyện Sĩ là
những cự phú có óc kinh doạnh. Cả 3 ông
đều có học bên Tây, đỗ Tú Tài đôi, về
nước bỏ vốn làm ăn, kinh doanh nhiều lănh
vực mới mẻ, cạnh tranh với người Pháp.
Lê
Phát Vĩnh là người có tánh hào hiệp, lịch
duyệt, cư xử với mọi người (công nhân,
tá điền) rất được ḷng, khi chết
nhiều người c̣n nhớ. Ngoài mấy ngàn
mẫu đất ở miền Tây, giáp ranh với
"điền ông Kho Gressier", ông Vĩnh c̣n có
đồn điền trà, đồn điền cao su
ở Cầu Đất (Đà Lạt) và miền
Đông. Năm 1920, ông Vĩnh lập hăng dệt the,
lấy tên Lê Phát (Manufacture de Tissage Le Phat) ở Cầu Kho
(quận I), sử dụng 50 công nhân. Ông lại cho trồng
dâu, nuôi tằm, ươm tơ để cung cấp cho nhà
máy, khỏi lệ thuộc nguyên liệu vào nước
ngoài. Riêng trong lănh vực đồn điền, ông
Vĩnh có 200 công nhân.
Lê Phát
An, năm 1934 trở thành cậu vợ Hoàng đế
Bảo Đại, có tặng cháu gái là Nguyễn Thị
Hữu Lan (Nam Phương Hoàng Hậu) một triệu
đồng làm của hồi môn, đủ biết sự
giàu có đến bực nào! Ông được Bảo
Đại phong tước An Định Vương.
Ông dân Pháp, có tên Tây Denis Lê Phát An. Ông sống như
một nhà quư tộc đúng nghĩa, biết làm ăn
lớn, ăn chơi giao du với các ông hoàng bà chúa của
Âu Châu. Ăn xài như ông hoàng, bạn thân với Hoàng
Thái Tử Henri D'Orléans, Thái Tử Đan Mạch Waldemar, Công
Tước De Montpensier và nhiều nhà danh giá khác... Ông là nhà
qúy tộc duy nhứt ở Nam Kỳ, tiền rừng
bạc bể có biệt điện Ana ở Vũng Tàu,
tư dinh Mont Roye ở Hạnh Thông Tây.
Trong
lănh vực điện lực, Lê Phát An và Phạm Tùng Long
có 12 nhà máy đèn ở các tỉnh Nam Ky như Trà Vinh,
Mỹ Tho, Châu Đốc, Phan Thiết... Trong khi đó,
tại Rạch Giá, công ty điện nằm trong tay các ông
Cao Thiệu Toản, Nguyễn Chánh Ngọ, Bùi Văn
Mậu.
Hồi
đó từ Gia Định trở lên là những
đồn điền cao su ngút ngàn, nằm trong tay các nhà
tư sản Việt Nam như Nguyễn Hữu Hào (quê
ở G̣ Công), Lê Phát Vĩnh (đồn điền Bà
Rịa), ở Thủ Dầu Một có đồn
điền các ông Nguyễn Văn Yến, Trần Văn
Chương, Lê Phát Tân (em ruột ông Lê Phát Vĩnh),
Nguyễn Tấn Thành... Ông Thành thuở nhỏ là một
người rất nghèo, theo mẹ ra chợ bán rau cải,
nhờ hiếu học, thông minh mà trở thành giàu có. Tỉnh
Biên Hoà nhiều đồn điền cao su rộng lớn
tới vài trăm mẫu, của các ông Nguyễn Văn
Của (tức ông huyện Của), Trần Văn Tư,
Trương Văn Bền, bà Nguyễn Thị Tâm.
Nhiều chủ nhân các đồn điền ấy có chân
trong tập đoàn cao su Đông Dương.
Về
ngành in và xuất bản: ở Mỹ Tho có nhà in
Nguyễn Văn Trí, Sa Đéc có nhà in Hồ Văn Lang, Sài
G̣n có nhà in "Xưa Nay" của ông huyện Của và
Lê Phát An, nhà in Nguyễn Văn Viết và nhà in Đặng
Thị Độc Lập...
Các
tỉnh có mấy xí nghiệp đáng kể như nhà máy xay
lúa Nguyễn Thành Liêm. Ông Liêm cũng có lập nhà máy ép
dầu dừa tại An Hoà. Nhà máy đường
Hiệp Hoà thành lập năm 1921. Nhà máy xay Lê Văn
Tiết ở Chợ Lơn, mỗi ngày xay được
16 tấn gạo.
Về
giao thông chuyên chở: tại Vĩnh Long có Nguyễn
Thành Liêm là một nghiệp chủ giàu lớn. Ông làm
chủ hăng xe đ̣ hàng chục chiếc, sử dụng trên
20 tài xế và 30 công nhân.. Ở Cần Thơ có nhà tư
sản Trần Đắc Nghĩa có khách sạn, gánh hát
Trần Đắc. Về đường thủy có
hăng tàu đ̣ ông Phán Nuôi (Vĩnh Long), hăng Vĩnh Hiệp
ở Mỹ Tho. Về ngân hàng có người Việt
tiên khởi thành lập "Việt Nam Ngân Hàng" là do các
ông Trần Trinh Trạch, Nguyễn Tấn Sử, Nguyễn
Tấn Lợi, Lê Quang Liêm, Trương Tấn Bộ,
Nguyễn Thành Điểm ...góp vốn. Nhiều công ty
mua bán làm đại diện các hăng xưởng của Pháp
như: Công ty Nguyễn Phú Khai ở Sài G̣n, chuyên nhập
cảng xe hơi, xe đạp, thuốc lá, công ty Nguyễn
Văn Hảo đại diện hăng xe "Rùa Nắp" (Rounab),
Lê Phát An c̣n chung vốn với De Ligon lập công ty
dệt. Ngoài người Việt, người c̣n cho
vay vốn (Chetty), người Hoa cũng góp vốn buôn bán
làm cho Nam Kỳ phát triển nhanh chóng.
Về
xă hội: Nam Kỳ có đời sống cao nhờ kinh
tế phát triển. Số điền chủ bực
trung (500 mẫu ruộng) tăng rất nhiều.
Họ có đời sống phong lưu như một quan
lại ngoài Bắc (Tuần Vũ, Tổng
Đốc). Hằng ngày, con cái họ ăn chơi
tại các trà đ́nh tửu điếm, đá gà, hút
thuốc phiện cầu vui, coi hát...
Có hai
địa điểm tập trung ăn chơi hồi
mấy thập niên đầu thế kỷ 20 như:
Sài G̣n
có khách sạn Continental, nhà hàng Hôtel de France đường
Catinat. Ở Chợ Lớn có pḥng ngủ, nhà hàng
tập trung gần khu "Đèn năm ngọn"
đường Phùng Hưng ngày nay. Đây là khu làm
ăn của người Tàu, nơi tiệc tùng đăi
đằng các quan Tây để làm áp phe. Người
Tàu có thói quen giải quyết công chuyện làm ăn trên bàn
tiệc. Nơi nào cũng có ca nhi, gái điếm và
động hút thuốc phiện, thú vui phổ thông thời
đó. Chợ Lớn c̣n có hát bộ Tàu, Sơn Đông
măi vơ, nhạc Tàu, coi bói, thai đố, đấm bóp trong
khách sạn. Việc tổ chức cờ bạc hồi
thập niên 1920-30 nằm trong tay thầy Sáu Ngọ, Sáu
Nhiều. Sáu Ngọ được mệnh danh là vua
cờ bạc Sài G̣n, hằng năm số tiền xâu lên
đến 2 triệu bạc (Xem thêm "Nam Kỳ Lục
Tỉnh" tập I, cùng tác giả) . Sáu Ngọ là
người lai, mẹ Tàu, nhập Pháp tịch lấy tên
Tây Paul Daron. Các nơi ăn chơi vùng Sài G̣n dành riêng
cho người Pháp, giới kư giả và dân có học
Tây. Chợ Lớn là nơi dành riêng cho người Tàu,
các ông điền chủ dưới tỉnh lâu lâu lên
Chợ Lớn làm việc mua bán, giá lúa gạo.
Ở
miệt vườn, từ Mỹ Tho đến Bạc Liêu
là nơi có nhiều điền chủ hạng trung.
Một số ít đại điền chủ như ông
Hương Liêm, đốc phủ Kiểng (Nguyễn Duy
Hinh) ở Bến Tre, đốc phủ Sưng ở
Mỹ Tho, Hội Đồng Trạch, Hội Đồng
Điều.. ở Bạc Liêu. Họ cất nhà lợp
ngói âm dương, nền đúc cao tới ngực, có hàng
rào song sắt, hai bên lối đi có trồng nhiều bông
kiểng. Nhà nào cũng cất gần mé sông, hoặc có
đào rạch nhỏ để chở lúa về, có
chỗ để ca-nô, có nhà mát để chiều chiều
ra mé sông hứng gió. Ngày nay, trên rạch Long Hồ, c̣n
nhiều nhà mát kiểu xưa. Trong quyển "Bảy
ngày trong Đồng Tháp ", trang 91, ông Nguyễn
Hiến Lê viết:"Khi tới gần G̣ Đá, chúng tôi
qua một trại rất lớn, có cày máy. Chủ
điền vui vẻ tiếp đăi, giữ chúng tôi lại
ăn cơm. Chỉ trong một giờ là trên bàn đă
có sáu, bảy món ăn, rượu quư, trái cây và bánh ngọt
rất nhiều. Dĩa chén toàn là đồ Limoges, ly
bằng pha lê. Chủ nhân có 600 mẫu đất, phàn
nàn lỡ mua non 1 vạn đồng bạc máy cày, mới
dùng được vài tháng lại phải bỏ v́ không khí
ẩm thấp, thợ chuyên môn không có... Chủa
điền trong nầy là những ông vua nhỏ. Chánh
tham biện vào nhà họ, thấy những thứ
rượu của họ mà thèm. Họ mua từng thùng
để đăi khách quư... Điền chủ hạng trung
như vậy dư sức cho con cái qua Pháp học, mà
số điền chủ đó ở Nam Kỳ có biết
mấy ngàn người, chưa có thống kê rơ ràng".
Nếu
nói riêng về giá cả vài món hàng chúng tôi xin nêu ra để
độc giả thêm ư niệm về giá trị của
đồng tiền lúc ấy. Từ năm 1919, giá vàng
50 đồng một lượng. Sau đó sụt
lần cho đến khủng hoảng kinh tế năm
1932 chỉ c̣n 19 đồng một lượng. Nói
chung trong hai thập niên kể trên, giá vàng xê xích khoảng 40
đồng một lượng mà thôi. C̣n giá ruộng
đất từ năm 1925, có 50 đồng một
mẫu, có khi tăng đến 80 đồng nếu là
ruộng tốt, gần bờ kinh xáng mới đào.
Một mẫu ngoài Bắc rộng 3,600m2 , ở
Trung rộng 4,800m2 và ở Nam Kỳ một
mẫu rộng 10,000m2, lấy theo đơn vị
đo lường của Pháp. Một mẫu có 10 công,
mỗi công ruộng có 1,000m2. Hồi năm
1927, ông Lê Phát Vĩnh có đăng báo bán 1,000 mẫu
ruộng ở Phụng Hiệp chạy xuống Sóc
Trăng, với giá 80,000 đồng, nhưng không ai mua,
họ chỉ trả 60,000 đồng (tính ra 60
đồng/1 mẫu). Giá lúa năm 1928 là 1.20, nhưng
đến năm 1933, có khủng hoảng kinh tế,
chỉ c̣n 0.30 hay 0.20 một giạ. Vè Nọc Nạn (1928)
cho biết:"Lúa th́ một giạ, giá th́ đồng
hai."
Về
các cơ quan tư vấn cao nhứt ở Nam Kỳ,
gồm một phần người bản xứ tham gia
gọi là Hội Đồng. Hội Đồng
Quản Hạt Nam Kỳ (Conseil Coloniale) thành lập năm
1880, được quyền biểu quyết ngân sách Nam
Kỳ. Lúc ban đầu, Hội Đồng nầy có
12 hội viên, nửa Pháp, nửa Việt. Muốn
được đi bầu, phải là các điền
chủ đóng thuế từ 20 đồng trở lên, nhà
buôn phải có môn bài hạng 6 trở lên, c̣n công chức th́
hạng thầy thông, thầy phán trở lên mới
được đi bầu. Về nhân viên chính
quyền bản xứ muốn đi bầu phải tri
phủ, tri huyện, chánh phó tổng, lư trưởng đă
làm việc trên 3 năm và các hội viên pḥng Canh Nông, pḥng
Thương Măi... Hội Đồng Địa Hạt
ăn lương tỉnh, hay thành phố như Sài G̣n,
Chợ Lớn. Ngoài ra, c̣n pḥng Thương Măi và Canh
Nông được lập ra để tập họp
những điền chủ, các nhà tư sản Pháp lẫn
Việt. Pḥng Thương Măi Nam Kỳ thành lập năm
1897. Cao hơn hết là Hội Đồng Kinh Tế
Lư Tài Đông Dương lập ra từ năm 1928, do
hội viên các tổ chức vừa kể bầu lên.
Thật ra các ong Hội Đồng chỉ có quyền
tư vấn, nhưng đối với dân chúng họ
được trọng vọng lắm v́ giàu có, nhiều
đặc quyền do Pháp ban cho. Kể từ khi Le Myre
de Vilers, một người dân sự được
bổ làm Thống Đốc Nam Kỳ, việc tổ
chức cai trị đi vào nề nếp.
Trong
một cuộc bầu cử Hội Đồng Quản
Hạt vào năm 1886, một ứng cử viên dùng chữ
Quốc Ngữ để vận động tranh cử,
đó là người bà con với ông Phủ Ca, tên Trần
Tử Lương: "Tôi phục vụ trong chính quyền
Pháp 22 năm, và được thăg Đốc Phủ
Sứ hạng nhứt, rồi xin hưu trí. Tôi
hiểu biết mọi vấn đề. Điều
đó rất quan trọng để giúp đồng
bào. Bây giờ tôi biết nói và viết tiếng Pháp,
lẫn tiếng Hán. Tôi mong muốn trở thành ông
Hội Đồng quản hạt Nam Kỳ, để
đem hết sức ḿnh giúp đỡ người An Nam
về tất cả những vấn đề liên quan
tới họ".
Hội
Đồng Quản Hạt Nam Kỳ có nhiều quyền
lợi. Muốn vào Hội Đồng phải là
những đại điền chủ, những nghiệp
chủ giàu lớn. Hơn nữa, với chính sách nâng
đỡ, các ông Hội Đồng được
quyền đặc nhượng về ruộng
đất miễn phí. Chẳng hạn như:
- ngày 3
tháng 8 năm 1900 cấp cho Hội Đồng Hồ
Bảo Toàn 200 mẫu đất
- ngày 6
tháng 8 năm 1904 cấp cho Hội Đồng Trần Bá
Diệp 100 mẫu đất .
Tất
cả đều miễn phí.
Năm
1882, một Hội Đồng người Pháp, ông Vienot
than phiền rằng trong những phiên họp các ông hội
đông người Việt không tham gia bàn căi, thảo
luận ǵ cả, bởi v́ không biết tiếng Pháp.
Khi hỏi ư kiến, hay biểu quyết về vấn
đề ǵ họ cũng đồng ư, tiếng Pháp
gọi là "OUI", như tiếng "OK" của
Mỹ nên dân chúng thường chế nhạo các ông Hội
Đồng dốt tiếng Tây là "Hội Đồng
Qùi". Từ đó, họ đề nghị
những người muốn ra ứng cử Hội
Đồng phải có quốc tịch Pháp. C̣n
Chủ Tịch Hội Đồng Quản Hạt là Cuniac
cho rằng cần có thông ngôn để các ông Hội
Đồng hiểu biết thấu đáo các vấn
đề bàn căi. Năm 1905, ông Hội Đồng
Trần Bá Diệp đắc cửa Phó Chủ Tịch
Hội Đồng Quản Hạt Nam Kỳ, nhưng 4 ngày
sau phải từ chức v́ lư do riêng. Ông Hội
Đồng Diệp Văn Cương cho rằng v́ áp
lực từ bên Pháp.
Bắt
đầu từ năm 1881, Pháp cho gia nhập dân Tây
những người có thể nói tiếng Pháp, c̣n nếu
có công trạng với Pháp được miễn
điều kiện nầy. Những kẻ có mề-đay
"Bắc Đẩu bội tinh" là những
người vào Hội Đồng Quản Hạt Nam
Kỳ trước nhứt:
-
Nguyễn Thành Trung năm 1882;
- Lê Phát Đạt
(ông Huyện Sĩ) năm 1882;
- Diệp Văn
Cương;
- Hồ Bảo Toàn;
- Trần Bá Diệp
năm 1882;
- Cao Văn Sanh
năm 1882;
- Hội
Đồng Phong (không nhớ họ ǵ);
- Trần Bá Thọ
(con Tổng Đốc Lộc).
Vào
năm 1893, Pháp cho phép con cái các ông Hội Đồng
được theo học trường Taberd có học
bổng. Ông Hội Đồng Cao Văn Sanh có con
được du học bên Algérie. Những ông Hội
Đồng nổi tiếng hồi mấy thập niên
đầu thế kỷ 20 là các ông : Bùi Quang Chiêu, Lê Quang
Liêm (Phủ Bảy), Trương Văn Bền, Huỳnh
Ngọc Bỉnh, Trần Như Lân (bác sĩ)... Các ông
Hội Đồng có trách nhiệm phê chuẩn các đề
nghị xin cấp đất cho những người
đứng đơn xin từ 20 mẫu trở lên.
Dưới 20 mẫu thường do chánh tham biện phê
chuẩn. Thống Đốc hay Toàn Quyền có thể
cấp một số đất co bạn bè thân thích.
Năm 1900 nhơn dịp Toàn Quyền Paul Doumer vào Nam ghé
ăn ở nhà Đỗ Hữu Phương, cấp cho m4
một số đất rộng 2,223 mẫu ở Vị
Thanh bây giờ. Cũng từ năm 1900, hàng chục ngàn
mẫu ruộng ở miền Tây được cấp cho
các người Pháp, Việt có thế lực, và tiếp
tục những năm sau đó. Ở miền Tây, chúng
ta c̣n nghe nhắc đến những sở đất
rộng lớn gọi là Điền Ông Kho (Gressier),
Điền Ông La-Bách (Labaste), Điền Cờ
Đỏ... phần lớn là những đất đai
được cấp không tốn tiền. Các nhơn
vật nổi tiếng nhứt của Nam Kỳ buổi
đầu đều vô dân Tây và có đạo Công giáo.
Họ cho con cưới vợ lấy chồng Pháp
để bảo đảm quyền lợi và sự
học vấn sau nầy.
Vào
năm 1888, toàn cơi Nam Kỳ có 2373 cử tri đủ
điều kiện đi bầu Hội Đồng
Quản Hạt, chia ra như sau:
- Biên
Hoà 313 cử tri;
- Sài G̣n 563 cử
tri;
- Trà Vinh 453 cử
tri;
- Vĩnh Long 333
cử tri;
- Châu Đốc 203
cử tri;
- Mỹ Tho 508
cử tri...
Những
con số đó cho biết số người giàu ở các
tỉnh lúc bấy giờ. Không phải tất cả
mọi ông Hội Đồng đều chỉ biết
nịnh hót Tây. Chúng ta hăy nghe lời phàn nàn của giám
mục Mossard tuyên bố trong một phiên họp Hội
Đồng Quản Hạt rằng: "Nhờ hấp
thụ văn hoá do nhu cầu cai trị, nhưng một
số các ông Hội Đồng tỏ ra ít trung thành với
Pháp".
Vào
năm 1930 ở Nam Kỳ có 257 đại điền
chủ, mỗi người có ít nhứt từ 500 mẫu
ruộng trở lên. Riêng Hội Đồng Tó, tức
Trần Trinh Trạch, có đến 146,000 mẫu ruộng,
rộng bằng một tỉnh trung b́nh ngày nay, là
người giàu nhứt , thế hệ sau ông Huyện
Sĩ.
Các ông
gia nhập Pháp tịch đầu tiên là Đỗ Hữu
Phương vào năm 1881, Trần Bá Thọ năm
1883. Vào năm 1906, toàn cơi Nam Kỳ có 254 người
Việt có Pháp tịch.
Việc
giáo dục những năm đầu ở Nam Kỳ ra sao?
Chiếm được Nam Kỳ rồi, người Pháp
muốn dùng văn hóa Pháp thay thế cho nền văn minh
bản xứ. Họ chọn lớp con cháu những
người có công với họ cho qua Pháp, Algérie du học,
với lư do khí hậu Algérie hợp với người
Đông Dương hơn. Vào năm 1893, con của
những Hội Đồng Quản Hạt Nam Kỳ tên
Duồm và Năng (không rơ chữ lót là ǵ) và con của
Hội Đồng Cao Văn Sanh được cho du
học Algérie trước tiên. Trường Adran thành
lập năm 1861, trường Taberd lập năm 1874, Pháp
chú ư đến thế hệ kế tiếp là lóp con cháu
của Đỗ Hữu Phương, Trần Tử Ca, ông
Huyện Sĩ, nên nhiều con cháu các gia đ́nh ấy
đều được qua Pháp du học.
Nên
nhớ vào năm 1869, lúc chiếm trọn Nam Kỳ,
nhưng chưa có hoà ước chính thức mà Pháp đă
mở ra ở Sài G̣n 6 trường học để
dạy chữ Pháp và chữ Quốc Ngữ, thay thế cho
chữ Hán. Trường Le Myre de Vilers (Nguyễn
Đ́nh Chiểu, Mỹ Tho) là một trường
được thành lập sớm nhứt, vào năm 1872
dưới thời Thống Đốc dân sự cùng tên.
Khi mới thành lập có vụ rắc rối giành học
tṛ giữa Thanh Tra Nội Vụ bản xứ và Giám
Mục Lize. V́ cần học sinh nên họ bắt các
học tṛ trong họ đạo của Cha Lize vào học,
mà Cha không đồng ư, tạo ra sự tranh chấp .
Sách "Sự có mặt của người Pháp ở Nam
Kỳ và Cam Bốt" do tác giả Milton E. Osborne
gọi vụ đó là "Affaire de l'école centrale de My Tho".
Cha Lize phàn nàn câu:"Vâng lịnh Chúa hơn vâng lịnh
người đời" không c̣n ư nghĩa nữa.
Vụ tranh chấp ấy làm cho thanh tra bản xứ
phải nhượng bộ. Nhiều nhà khá giả có
lịnh bắt buộc phải cho con theo học trường
Mỹ Tho. Tuy nhiên họ t́m cách giấu con ruột, cho
đứa ở đi học, v́ sợ triều đ́nh
trả thù. Những con cái của gia nhơn, ở
đợ nếu có chí, về sau trở thành những ông
phủ, ông huyện dễ dàng. Để khuyến
khích, ngoài trợ cấp quần áo, tiền bạc cho
học tṛ, Pháp c̣n cấp cho cha mẹ chúng. Ta thấy
thực dân cũng khôn ngoan chú trọng chính sách trồng
người. Con trai Huỳnh Công Tấn là Huỳnh Công Miêng
c̣n gọi là Cậu Hai Miêng (1859-1899) về làm quan một
thời, rồi chán đời, ăn chơi, sống
như công tử đầu tiên của Nam Kỳ
được mọi người ca tụng là
"miễn tử lưu linh". Cậu Hai Miêng có
một gia tài ruộng đất kếch sù nhưng ít ai
biết. Theo tài liệu Pháp, lúc chết Cậu Hai Miêng
c̣n trên 1,000 mẫu ruộng!
Trước
năm 1975, c̣n ngôi mộ Cậu Hai Miêng tại
đường Nguyễn Tấn Nghiệm (sau đổi
Trần Đ́nh Xu). Cậu Hai Miêng chết, nhưng danh
tiếng cậu c̣n sống măi trong ḷng người dân v́
tập thơ "Cậu Hai Miêng" được in và
tái bản nhiều lần, phổ biến sâu rộng
ở Nam Kỳ. Nội dung tập thơ ca tụng
tính khí Cậu Hai sống theo anh hùng hảo hán, điệu
nghệ với anh em bè bạn, hay giúp đỡ
người nghèo. Cậu Hai Miêng tới đâu, hết
tiền xài, cứ vào dinh các tham biện chủ tỉnh,
chủ quận hỏi xin. Các quan nể cậu, và nhớ
công lao cha cậu nên cũng giúp đỡ. Đôi khi
cậu làm điều ǵ phạm lỗi nhỏ, họ
cũng bỏ qua. Nói về hành vi hào hiệp, rộng
lượng của cậu, dân chúng Nam Kỳ có hai câu
thơ trong tập thơ"Cậu Hai Miêng":
"Cậu
Hai Miêng, cậu chớ có lo
Hết
tiền cậu cứ xuống kho lấy xài."
Vài
người Việt qua Algérie du học vào cuối thập
niên 1880 là các ông Nguyễn Trọng Quản, Diệp Văn
Cương, Trương Minh Kư,.
Ông
Nguyễn Trọng Quản (1865-1911) quê ở Bà Rịa, con
rể Trương Vĩnh Kư, du học Lycée d'Alger, về
nước làm giáo sư, rồi thành giám đốc các
trường sơ học vào những năm 1890-1900.
Ông c̣n là một nhà văn tiền phong, đă viết truyện
"Thầy Lazaro Phiền", xuất bản năm
1887. Ngoài ra ông c̣n là họa sĩ, đă vẽ các tranh
minh hoạ trong tiểu thuyết "Phan Yên Ngoại
Sử" của Trương Duy Toản, xuất
bản năm 1910 tại Sài G̣n .
Ông
Trương Minh Kư (1855-1900) là người quê ở
huyện B́nh Dương, nay thuộc tỉnh Gia
Định, cũng học bên Alger (thủ đô
nước Algérie), về nước làm giáo sư dạy
trường Chasseloup Laubat, trường thông ngôn và viết
cho tờ "Gia Định báo.". Năm 1899,
ông làm thông ngôn trong một phái đoàn của triều
đ́nh Huế dự hội chợ đấu xảo
tại Paris. Trương Minh Kư để lại
nhiều tác phẩm chữ Quốc Ngữ, ngôn ngữ,
chữ Pháp và chữ Hán rất có giá trị.
Ông Diệp
Văn Cương chúng tôi có nói nhiều trong các tập Nam
Kỳ Lục Tỉnh, xin miễn kể lại.
Chương
Hai
TIỀN, SẮC ĐẸP VÀ BÙA NGẢI
Sài G̣n
năm 1929...
Tại
sao lấy mốc thời gian 1929 ?
Năm
1929 là năm kinh tế Nam Kỳ cực thịnh, nhưng
qua năm sau, bắt đầu giảm dần do ảnh
hưởng cuộc khủng hoảng kinh tế thế
giới. Năm 1933, kinh tế Nam Kỳ thê thảm
nhứt v́ các món hàng xuất cảng như lúa gạo, cao
su, than đá... trên thị trường quốc tế
hạ thấp chưa từng thấy. Vào năm 1929,
lần đầu tiên cán cân xuất nhập cảng
của Nam Kỳ thăng bằng, có phần trội hơn
về mặt xuất cảng. Mức sản xuất
lúa lên đến 2,291,000 tấn và cứ bổ đồng
1,000 dân th́ có 5 người qua Pháp: 2 người đi lính
chiến, 2 người là lính thợ và 1 ngựoi du
học. Năm 1929, dân số Sài G̣n Chợ Lớn
khoảng 400,000 người, và Sài G̣n trở thành một
đô th́ sầm uất nhứt trong nước . Chợ
Tân Định và nhà thờ Tân Định mơí khánh thành
năm 1928. Chợ Lớn mới dời về B́nh Tây,
do ông Quách Đàm cất tặng cho chính phủ. Chợ
Bến Thành do Chú Hoả (Hui Bon Hoa tức Huỳnh Trọng
Huấn) cất tặng cho chính phủ năm 1914. Lúa
gạo cao giá nhứt: 1đồng 2 cắc một
giạ. Đời sống nông dân khá hơn đôi
chút. Thật sự khi lúa trúng mùa liên tiếp, bán
được giá...tiền bạc vào tay các điền
chủ, nông dân không có ruộng chiếm tới 71%, nên không
hưởng được phúc lợi trong việc làm
ruộng bao nhiêu.
Trong hai
năm 1927-28, số nhà máy xay lúa ở Chơ Lớn tăng
gấp đôi. Chợ Hoà B́nh măi đến năm 1935
mới xây, cũng do một thương gia giàu, hiến cho
chính phủ để được độc quyền
xây phố lầu chung quanh để cho mướn.
Hệ thống mua bán lúa gạo thực sự nằm trong
tay Hoa kiều. Người Ấn sống trầm
lặng hơn. Họ cho vay, buôn bán nhỏ, nuôi ḅ
sữa ...
Khu
vực ăn chơi của người Hoa tập trung
tại Đèn Năm Ngọn (đường Phùng Hưng
và Khổng Tử sau này), rộn rịp từ sáng sớm
tới khuya. Các năm 1927, 28, 29 măi lực dân chúng Nam
Kỳ cao hơn bao giờ hết. Chiếc xe
đạp đă phổ thông. Cái giàn hát máy đă theo
chân các điền chủ trung lưu về tận miền
quê. Tại Sài G̣n , Chợ Lớn có xe điện, xe
hơi, xe ngựa (hai loại: Mui kiếng để
chở khách, và loại xe chở rau cải hàng hoá). Sài
G̣n đi Chợ Lớn có hai lộ tŕnh xe ngựa:
lộ tŕnh mé sông đi dọc đường Hàm Tử,
bến Chương Dương và lộ tŕnh trên, đi
đường Nguyễn Trăi. Phổ thông hơn
hết cho các người sang bực trung là xe kéo (do
người kéo như xe ngựa). Năm 1922, khi vua
Khải Định sang Pháp, ngỏ ư với viên Khâm Sứ
Trung Kỳ, muốn đem chiếc xe kéo và một thằng
phu, để qua Paris nó kéo ông đi chơi, làm cho viên Khâm
Sứ ph́ cười!
Thú
ăn chơi hồi đó đă phát triển vượt
bực. Thực dân nắm độc quyền hai món
thuốc độc để đầu độc dân ta:
Rượu và Thuốc Phiện. Khắp Sài G̣n Chợ
Lớn có khoảng 500 tiệm hút thuốc phiện công
khai. Các đại lư bán thuốc phiện đều có
treo cờ "R.O." (Régie d'Opium) và các đại lư bán
rượu treo cờ "R.A." (Régie d'Alcohol). Riêng
hai món nầy nhà nước độc quyền, mỗi
năm thu một số tiền lời khổng
lồ. Toàn Quyền Maurice Long có phần hùn trong công ty
rượu Đông Dương.
Ở
Cao Miên cũng vậy, chính phủ Pháp trợ cấp
thuốc phiện cho hoàng gia Miên hằng tháng...để hút
chơi. Nếu nhà vua không hút th́ bán lấy tiền chi
dụng. Trong việc đào kinh, đắp lộ xe
ở miền Tây hồi thập niên 1920, nhà nước
"Đại Pháp" cung cấp rượu cho dân phu như
một cách trả lương, v́ đó là "thứ
uống rất vệ sinh"!
Ngoài ra,
c̣n hai thứ tệ đoan xă hội là nạn cờ
bạc và măi dâm cũng rất phổ thông, được
người Pháp ngầm khuyến khích. Thập niên
1920, người ta ước lượng tổng số
huê lợi chứa bài của thầy Sáu Ngọ, vua
cờ bạc, từ 2 triệu đồng đến 2
triệu rưỡi. Các xóm em út nơi nào cũng có,
nhứt là các khu lao động, bến tàu, bến xe.
Nổi tiếng nhứt hồi những năm đó là xóm
Bồ-Rệt (Boresse, tên Chánh Tham Biện đầu tiên
của Sài G̣n , Gia Định), rồi sau đó lan tràn
tới xóm Vườn Lài. Những năm giữa
thế kỷ khu B́nh Khang nổi tiếng là "xóm chơi
bời".
Về
mặt văn hoá, thời kỳ nầy nhiều tác
phẩm khêu gợi ḷng yêu nước xuất hiện
ở Nam Kỳ nhiều nhứt. Nữ Lưu Thơ Quán G̣
Công của cô Phan Thị Bạch Vân thành lập năm 1928,
tồn tại một thời gian ngắn, nhưng có
những sách giá trị:
- Gương
nữ kiệt, Phan Thị Bạch Vân dịch
- Giám hồ nữ hiệp của Huỳnh Thị
Tuyết Hoa.
- Băng tâm ngọc chất của Huỳnh Anh
Thị.
- Nữ anh tài của Huỳnh Thị Tuyết Hoa
Nhà
xuất bản của ông Nguyễn Kim Đính "Tân Dân
Học Xá" cũng cho ra đời nhiều cuốn sách
bị thực dân cấm. Năm 1927, Trần Huy
Liệu, lúc chưa vô đảng Cộng Sản, lập
"Cường Học Thư Xá" xuất bản
được 13 quyển, th́ có 10 quyển bị cấm
lưu hành như:
- Anh hùng cứu
nước của Đào Khắc Hùng
- Gương phục quốc của Trần Huy
Liệu
- Hiến thân cho nước của Trần Huy
Liệu
- Anh hùng yêu nước
Đặc
biệt nhà văn có khuynh hướng Mác-Xít đầu tiên
của miền Nam là Trần Hữu Độ (1887-1945)
với các tác phẩm kêu gọi bạo động như "Hồi
trống tự do", "Tờ cớ mất tự
do", "Tiếng chuông truy hồn"...nhưng
Trần Hữu Độ chưa bao giờ hoạt
động cho Cộng Sản.
Về
mặt báo chí, chúng tôi có kể lại trong mục Bối
Cảnh (chương đầu của bài nầy), xin
nhắc lại các tờ báo giá trị và có uy tín thời
đó như "Đông Pháp thời báo" ban
đầu của ông Nguyễn Kim Đính, sau đó bán cho
ông Diệp Văn Kỳ, tờ "Thần Chung",
và đặc biệt nhứt là tờ báo "Phụ
Nữ Tân Văn" của bà Nguyễn Đức
Nhuận... Một biến cố được báo chí
hồi đó nhắc nhở nhiều hơn hết, làm xôn
xao dư luận, các bậc thức giả miền Nam là
việc thi hào R.Tagore Ấn Độ, người Á
Châu đầu tiên chiếm giải Nobel, đă đến
viếng thăm Sài G̣n trên đường viễn du
thế giới, cổ vơ cho hoà b́nh. Đặc biệt
ông được người dân Sài G̣n ngưỡng
mộ, dành cho nhiều cảm t́nh khi ông đến toà báo
"Phụ Nữ Tân Văn" tại báo quán.
Có
thể nói trong lịch sử văn hoá thế giới,
hiếm hoi có những người với đầu óc sáng
tạo phi thường như R.Tagore. Ông sáng tác 52 tập
thơ, 42 vở kịch, 12 cuốn tiểu thuyết, hàng
trăm truyện ngắn, hàng ngàn bức tranh, trong đó có
nhiều bức tranh được trưng bày trong các
viện bảo tàng mỹ thuật trên thế giới.
Ông là một nhà thơ, một nhà triết học, nhà giáo
đầy tâm huyết, một nhà nghiên cứu văn
học cổ đại Ấn Độ. Sau khi
Thế Chiến Thứ Nhứt chấm dứt, Tagore đi
du lịch khắp thế giới, để cổ vơ cho
phong trào giành độc lập của các thuộc
địa. Tagore từng qua Trung Quốc, Nga, Mỹ,
Anh, Pháp, Ba Tư và vài nước Châu Á trong đó có Việt
Nam.
Lần
đầu tiên vào năm 1924, tin thi hào Rabindranah Tagore
viếng thăm Sài G̣n làm các báo sốt sắng đăng
tin tức, h́nh ảnh, sự nghiệp của ông . Tuy
nhiên, lần đó công cuộc chuẩn bị tiếp
đón Tagore ...hụt, v́ ông không ghé Việt Nam mà từ Trung
Quốc đi thẳng về Ấn Độ. Bàn
về sự nồng nhiệt của giới trí thức
Nam Kỳ đối với thi hào Tagore hồi đó, thi
sĩ Đông Hồ nhận xét:"Trí thức Việt Nam
khoảng mấy năm đó say mê các nhà cách mạng.
Họ thấy Tagore cũng như Thánh Gandhi, là những ông
thánh, những chí sĩ ái quốc, dám lên tiếng chống
đối thực dân để đ̣i hỏi độc
lập, tự do và b́nh đẳng cho người dân
thuộc địa". Người Nam Kỳ đă
công khai đón tiếp nhà cách mạng Phan Bội Châu, chí
sĩ Nguyễn Thượng Hiền, cổ vơ các học
thuyết của Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi, th́
việc tiếp đón Tagore rầm rộ cũng không
lấy ǵ làm lạ.
Nhưng
vào năm 1929, trên đường viễn du thế
giới, từ Nhựt Bản, Tagore ghé lại Sài G̣n
trước khi qua Phi Châu. Khi chiếc tàu chở Tagore
cặp bến Nhà Rồng vào ngày 21 tháng 6-1929, tờ báo "Tribune
Indochinoise" tổ chức cuộc biểu t́nh lớn
để chào mừng Tagore. Kư giả Lê Trọng
Nghĩa, một nhà báo có uy tín trong vụ binh vực vụ
án "Đồng Nọc Nạn" năm trước
(1928), đồng thời cũng là hoạ sĩ có tài
đến phỏng vấn và xin vẽ chân dung thi hào Tagore
bằng than ch́ trên giấy trắng khổ 50x65cm.
Bức ảnh nầy R.Tagore là một cụ già quắc
thước, râu tóc bạc phơ, mặc áo đen, ngồi
cầm bút, để tay lên bàn. Bên góc bức hoạ có
chữ kư của Tagore và được gia đ́nh nữ
sĩ Ái Lan, em ruột kư giả Lê Trung Nghĩa lưu
giữ như một báu vật.
Sáng ngày
23 tháng 6-1929, Tagore được hướng dẫn
đến thăm toà soạn báo Phụ Nữ Tân Văn và
"Nhà Thương Cuộc". Tại toà báo, gần
Tổng Nha Ngân Khố trước 1975, bà Nguyễn
Đức Nhuận cùng các ông Phan Khôi, Đào Trinh Nhất,
Diệp Văn Kỳ đến túc trực tiếp đón
Tagore, cho ông ta xem nhiều số báo viết, giới
thiệu thân thế và sự nghiệp của thi hào.
Trong các báo đó, h́nh ảnh thi hào Tagore kém tươi trên
gương mặt, cái tinh thần trong đôi mắt dường
như có hào quang sáng rực của con người "tiên
phong đạo cốt". Bà Nguyễn Đức
Nhuận có viết một bài nhan đề "Thi sĩ
Tagore ghé viếng toà soạn báo Phụ Nữ Tân Văn"
cho biết: "Trước tôi vẫn tưởng
ông Ấn Độ nầy da đen như ông Gandhi và
phần nhiều người xứ ấy, bây giờ
mới biết là ḿnh lầm. Ông cao lớn, tuổi
gần 70 quắc thước lắm. Nước da
trắng mịn và ửng đỏ, mũi cao trán
rộng. Rơ là trán của một nhà tư
tưởng. Bàn tay của Tagore giống như bàn tay
của những người đàn bà khuê các. Tagore
thuộc về một vọng tộc, sanh trưởng
chốn phong lưu, hằng ngày chỉ có một việc
ngâm thơ, vịnh phú, bởi thế mới có mấy cái
đặc sắc ấy. Viết tới đây tôi
lại nhớ tới ông Gandhi trong một cuộc bút
chiến với ông, bút chiến mà đằm thắm, có
tật hô rằng:"Ông Tagore! Ông cũng phải đi
dệt vải như chúng tôi".
Dệt vải chắc là thi sĩ không được sành,
nhưng dệt nên những câu cẩm tú th́ khéo lắm, khéo
cho đến nỗi ông là người Á Đông lần
thứ nhứt được phần thưởng
Nobel. Quê hương của R.Tagore ở miền Punjab,
Tây Bắc Ấn Độ, vùng hợp lưu của 5 con
sông nổi tiếng. Nơi đây cũng có một
nền văn minh tối cổ của nhân loại vào
khoảng 2000 năm trước Tây Lịch tại
Mohenjo-daro và Harappa. Sở dĩ nơi đây có giống
người Ấn cao lớn, da sáng, mũi cao v́ cuộc
viễn chinh của Alexandre Đại Đế,
người xứ Macedơin vào đất Ấn.
Alexandre khuyến khích quân lính lấy người bản
xứ, do đó, tạo ra một chủng tộc Ấn
Độ có màu Ấn-Âu, để phân biệt với
người Ấn bản xứ Dravidian ở miền Nam,
và cao nguyên Decan mà Gandhi là người thuộc ḍng
giống ấy.
Có
một điều đặc biệt khi đến Sài G̣n
, Tagore mặc chiếc áo dào Việt Nam, phía trên
đội mũ Ấn Độ bằng nỉ đen,
không vành, mang kính, trông cũng chẳng khác xa một "ông
già đạo mạo người An Nam bao nhiêu".
Giới làm báo lấy làm ngạc nhiên khi Tagore cho biết ư
định đi dạo phố Sài G̣n trong bộ y phục
cổ truyền Việt Nam đó. Ông được
một nhà báo hảo tâm dẫn đến một nhà may danh
tiếng Sài G̣n , để đặt may áo dài Việt Nam...
Hai hôm sau, trên đường phố rộn rịp của
Sài G̣n, người ta thấy một ông già Ấn
Độ cao lớn, quắc thước phương phi,
râu tóc bạc phơ trong bộ áo dài bằng gấm bông
bạc, lại thêm đội khăn đóng, giày Escarpin,
đi dạo phố trước những cặp mắt ṭ
ṃ của thị dân!
Trở lại cuộc sống cô Ba Trà lúc nầy, tiền
bạc vô như nước. Từ đây cô bắt
đầu một cuộc sống như một bà hoàng, lên
xe xuống ngựa mấy chục năm liền, làm
điêu đứng phá sản không biết bao nhiêu công
tử hào hoa, tay tiền rừng bạc bể xứ Nam
Kỳ. Trong phần trước, chúng ta nghe nói cô Ba Trà
được cậu Tư Phước George tặng
nhẫn hột xoàn trị giá vài ngàn, rồi cậu Ba Qui
cạnh tranh, tặng chiếc khác gấp đôi.
Những đồ vật giá trị ấy lần
lượt đi vào tiệm cầm đồ hoặc vào
tay những Ấn kiều chuyên môn cho vay. Tiền vô như
nước, nhưng vô cửa trước rồi ra
cửa sau đúng như ông thầy bói danh tiếng Vi Kính
Trang đă bói cho cô.
Hồi
những năm đầu thế kỷ 20, đất Sài
G̣n - Chợ Lớn có hai ông thầy tướng số
nổi danh mà măi đến sau nầy chưa có
người nào có thể so sánh, ngay cả Chiêm tinh gia
Huỳnh Liên. Những năm 1960, Huỳnh Liên rất
nổi tiếng, ai cũng nghe danh. Riêng tôi, xin nói
thật một điều là không dám tin những lời
đồn về những điều tiên tri của
Huỳnh Liên, nhưng chính một người trong
đại gia đ́nh của tôi, có đến nhờ ông
Huỳnh Liên "cho phép" để bán một căn nhà
ở Phú Nhuận với giá cao như ông đă hứa.
Đợi cả tháng, nhà vẫn không bán được, mà
cũng không ai đến coi, nên người đóng
tiền trước cho Huỳnh Liên t́m tới văn pḥng
ông đ̣i tiền lại. Lúc đó văn pḥng đang
đông khách. Sau một hồi nói qua nói lại, mà vẫn
không lấy tiền lại được, người
quen của tôi bực tức, nói:
- Nè, tôi
nói cho ông biết. Ông làm được th́ nói, không làm
được th́ thôi, đừng lừa bịp chúng
tôi. Tôi thách ông có bùa phép ǵ làm cho tôi chết. Nếu ông
làm (ếm) mà tôi không chết, tôi đến đốt nhà
ông !
Lần
đó khách đang ngồi đời, sững sờ
đến ngạc nhiên!
Ông thầy
Tư Nên, tôi có nói đến trong bài "Các cuộc
đời ngoại hạng Nam Kỳ thuở
trước" nên không nhắc lại. Tuy nhiên có
một chi tiết mới, chúng tôi được một
người bạn vong niên là ông Nguyễn Văn Mạnh
kể laị. Lúc đó vào năm 1915, thầy Tư Nên
đang mở văn pḥng coi bói tại thành phố Mỹ
Tho. Hoàng tử Bửu Đảo, theo lời cụ
Nguyễn Văn Vực có lúc làm thơ kư cho nhà Bưu
Điện Sài G̣n, nên những ngày nghỉ, thường
theo bạn bè xuống trường gà Rạch Gầm
của ông chủ. Trước để đá gà, hay
đi coi Ca ra bộ (tiền thân của Cải Lương)
ở các khách sạn Mỹ Tho. Nơi đây hồi
đầu thế kỷ là nơi phồn hoa đô hội,
v́ hành khách lên xuống lục tỉnh, phải đi xe
lửa tới Mỹ Tho, ngủ đêm, rồi sáng hôm sau
xuống tàu lục tỉnh về miền Tây.
Chuyến lên Sài G̣n, các ông điền chủ cũng ngủ
ở Mỹ Tho một đêm trước khi đáp xe
lửa đi Sài G̣n . Đường lộ trải
đá dành cho xe hơi lưu thông về miền Tây chưa
thành h́nh. Nhiều khúc lộ c̣n mới đắp dang
dở. Có một lần Bửu Đảo xuống
Mỹ Tho, được bạn bè dẫn tới thầy
Tư Nên coi bói. Lúc đó, Hoàng tử Bửu Đảo tay cầm
cây can, chỉ chỏ xuống đất như kéo một
gạch ngang. Thầy Tư Nên sụp lạy và nói:
- Tâu
Ngài:"Cây can vẽ một vạch ngang trên mặt
đất thành ra chữ Vương. Ngài có chân
mạng đế vương.
Nghe xong
Bửu Đảo ph́ cười, tưởng rằng
thầy Tư Nên nói chơi, v́ trước khi vào đây,
không ai giới thiệu Bửu Đảo là một Hoàng
tử cả.
Chỉ
mấy tháng sau, khi vua Duy Tân khởi nghĩa thất bại
ở Huế và bị lưu đày (1916), Toàn Quyền Paul
Pert đưa Bửu Đảo lên ngôi vua, lấy hiệu
là Khải Định. Nghe đâu sau khi tức vị,
Khải Định có nhớ tới ông thầy bói Tư
Nên, bèn gởi thư khen ngợi.
Thầy
tướng và thầy bói Vị Kính Trang nổi tiếng
sớm hơn thầy Tư Nên. Thời đó muốn
đến xem bó với thầy Vi Kính Trang phải trả 5
cắc (phân nửa của một đồng, giá bằng
một giạ lúa), nhưng kiếm được thầy
đă khó, mà chờ đợi thầy cũng rất lâu
mới tới lượt ḿnh. Ban đầu Vi Kính
Trang ở trên gác trong đường nhỏ Rue d'Artisan,
phía đường Cháo Muối, tức đường
Thủy Binh, sau là đường Đồng Khánh. Sau
đó Vi Kính Trang dời đến một căn phố
lầu phía dưới là tiệm bán ḿ, hủ tiếu ở
đường Jaccréo, nay là Tản Đà, gần
Arc-En-Ciel. Vi Kính Trang là một thầy tướng,
thầy bói danh bất hư truyền. Mới gặp
cô Ba Trà, nh́n sơ qua tướng mạo, ông nói trúng phong
phóc mọi việc xảy ra trong quá khứ như
người trong nhà kể vậy. Có những chuyện
người trong nhà không biết mà ông Vi Kính Trang biết rơ,
không sai một nét. Khi cô Ba Trà hỏi chuyện hậu
vận, Vi Kính Trang nh́n cô một lần nữa, rồi
nghiêm trang nói:
-
Số cô giàu sang tột bực. Tiền vô như
nước, nhưng ra cũng như nước
chảy. Cô không có số cầm tiền. Dẫu cô
có muốn xây dựng gia đ́nh với ai, để
hưởng giàu sang sung sướng cũng không
được... Xin lỗi cô, cô có số của "Đạm
Tiên":
"Sống
làm vợ khắp người ta,
Hại
thay thác xuống làm ma không chồng...
Nghe Vi
Kính Trang nói, cô Ba Trà vừa vui thích, nhưng cũng có vẻ
lo lắng. Cô móc bóp đền ơn ông 5 đồng,
nhưng ông từ chối chỉ lấy 5 cắc mà thôi! Sau
đó, cô lên xe bảo tài xế chở về nhà "Nguyệt
Tiên Cung", thay v́ đi lại ṣng bạc thầy Bảy
Phương như đă dự định (lời cô
kể lại).
Nếu
có ai hỏi quư vị độc giả rằng một
người đàn bà đẹp như huê khôi, tiền
rừng bạc biển ăn xài không tiếc, sống trên
nhung lụa, lên xe xuống ngựa trong mấy chục
năm liền... Mỗi khi ra đường có kẻ
hầu người hạ, bồi bếp riêng, tài xế
riêng, các công tử, các quan lại cao cấp, khác thượng
lưu xă hội... đua nhau săn đón, chiều
chuộng, th́ độc giả gọi người đàn
bà ấy là ...ǵ ?
Tôi không
dám lạm dụng chữ nghĩa, không dám gọi đó là
một bà hoàng, bà chúa như kiểu "Bà chúa đĩ
Bắc hà, cô Tư Hồng" mà chúng tôi có viết
laị trong bài "Vua Khải Định", mà
sự thật cuộc sống của cô Ba Trà c̣n sang hơn
cả một bà hoàng, bá tước của hàng quư tộc
bên Âu Châu. Trong lịch sử ăn chơi Đông Tây
kim cổ nước ta, chưa có người nào có thể
so sánh với cuộc đời cô Ba Trà . Chính cô đă
làm điêu đứng biết bao công tử hào hoa, các
đại điền chủ, thanh niên cũng có, sồn
sồn cũng có, nhỏ hơn cô hàng chục tuổi
cũng có.... hễ ai gặp cô cũng mê như một sức
quyến rũ kỳ lạ, hay bị thôi miên.. Nhiều ông
đại điền chủ lên Sài G̣n bán mấy ghe chài
lúa, ăn chơi huy hoắc với cô Ba Trà chỉ hơn
một tháng mà lúc trở về chỉ c̣n tay không.
Trong khi
sở phí Đông Pháp lữ quán càng cao, nợ nần càng
nhiều, cô Ba Trà muốn giải nghệ th́ chính là lúc các
công tử Ba Qui, cậu Tư Phước George mê cô và
một nhà triệu phú trẻ tuổi khác làm "trung gian
thương măi" (tiếng Tàu gọi là mái chính), lai
hai ḍng máu, họ Lương, nên dân ăn chơi gọi
"Lương mái chính", gặp cô, mê cô, bỏ tiền
ra để cô trả nợ, rồi thuê riêng một căn
phố lầu sang trọng định xây tổ uyên
ương, ăn đời ở kiếp với cô.
Ngôi nhà lầu nầy cất theo kiểu phố hai
từng, mặt tiền rộng 6m, sơn màu xanh (kiểu
thanh lâu) ở đường Richaud (nay là Phan Đ́nh Phùng)
nguyên của ông trưởng toà Tư ở Vĩnh Long làm
chủ. Căn phố lầu này cho mướn giá 160
đồng một tháng tương đương 4
lượng vàng, đủ biết sự sang trọng
của nó ra sao. Những người tiền rừng
bạc bể mới dám tới đó ăn chơi với
huê khôi "Ba Trà". Do Lương mái chính bỏ tiền
trang hoàng lộng lẫy, đồ đạc mắc
tiền, trướng rũ màn che, ghế nệm,
trường kỷ, nhà để xe (garage), pḥng cho bồi
bếp, vệ sĩ, gia nhơn... Chỗ ở mới
của người đẹp sang trong đến nỗi
giới ăn chơi đặt tên "Nguyệt Tiên
Cung" mà thực chất là "cái tổ quỷ"
của bọn đàn ông giàu tiền.
Tuy
gọi phố lầu cho gọn, thật ra đó là một
loại biệt thự liên lập hai từng. Mỗi
từng gồm nhiều pḥng riêng biệt. Mỗi pḥng
đều trang bị salon cẩm lai, salon gơ cẩn ốc
xa cừ lóng lánh, ngồi lên mát lạnh. Đặc
điểm của chỗ ở nầy là mỗi pḥng
đều treo một thứ màn mắc tiền bằng
voan mỏng, màu sắc khác nhau: Trắng, xanh, hồng có
viền ren tím. Trên lầu, các pḥng đều treo màn màu
hồng, màu đỏ, phản chiếu dưới ánh sáng
bóng đèn ngủ trắng đục, làm cho không khí thêm
gợi t́nh, huyền ảo. Khách vào đây có cảm
giác như lạc vào chốn đào nguyên mà thật sự
chỗ nầy là "chốn lầu xanh de luxe". Các
ông hội đồng, thầy cai, các ông điền
chủ mỗi lần vào Nguyệt Tiên Cung một đêm,
sáng ra thấy mất một ghe chài lúa như chơi.
Cũng v́ tiếng đồn Nguyệt Tiên Cung là chỗ ăn
chơi phong lưu, thanh lịch, nhiều ông nhà giàu
trọng tuổi, c̣n hảo ngọt, từ Hậu Giang lên,
ṭ ṃ tới chơi một lần cho biết. Theo
cụ Vương Hồng Sển, "thật sự ít ai
có dịp ăn ngủ với cô Ba Trà". Hồi
đó cái "tổ quỷ" Nguyệt Tiên Cung chính là nơi
hành lạc kiểu "nhứt dạ đế
vương" đầu tiên ở Sài G̣n . Ngoài cô Ba
Trà, Nguyệt Tiên Cung c̣n có các cô "á hậu" khác như
cô Quế Anh, cô Tư Nhị.
Quế
Anh là một cô gái đẹp, có đầu óc lăng mạn,
học trường "áo tím", từng đóng vai
nữ trong tuồng "Tối độc phụ
nhơn tâm", làm cho khán giả rơi lụy nhiều
đêm. Sau đó, Quế Anh từ giă học
đường, bước vào con đường giang
hồ. Nay cặp với công tử này, mai ông
điền chủ kia, miễn ai có tiền và dám ăn xài.
Cô
Tư Nhị , một người "đầu gà,
đít vịt" (cha Tiều, mẹ Miên) quê ở Sa
Đéc, lên Nam Vang lập nghiệp. Cô có thân h́nh rắn
chắc, nói theo kiểu bây giờ, cô có "thân h́nh nẩy
lửa", hấp dẫn.
Không
có điều lệ thành văn, nhưng lâu ngày thành thói quen
nhứt định, khách hào hoa muốn vô Nguyệt Tiên Cung
phải nạp 1000 đồng lệ phí, gọi là
"đi lễ". Số tiền ấy phải
gồm 10 tờ giấy xăng bộ lư (giấy 100
đồng có in h́nh bộ lư), đựng trong bao
thơ, đặt trên một cái mâm do một cô xẩm
bưng lên lầu để "xin ra mắt cô Ba".
Những ai nạp tiền lẻ (giấy 20đ, giấy
50đ..) đều bị coi là keo kiệt, có khi cô Ba không
tiếp làm cho mất mặt.
Bước
vô nhà, khách được thỉnh vào pḥng khách thứ
nhứt rất sang trọng. Ở đây khách
được mời ngồi vào salon chờ
đợi. Một cô trịnh trọng bưng lại
một ly rượu Champagne đặt trên một cái
mâm. Khách được mời "nhắm chút
rượu khai vị".
Độ
10 phút sau, khi khách vừa nhấm chút rượu cho ấm
bụng, lại được mời qua một pḥng
khác. Trước khi qua pḥng nầy có một anh Chà Và
(Java) đen, mặc đồng phục trắng, kiểu
bồi khách sạn ngày nay gác cửa, lễ phép chào khách
rồi nhường khách bước qua pḥng nầy.
Giống như khuê pḥng các tiểu thơ, pḥng nầy
sực nức mùi nước hoa, trên bàn có một b́nh hoa
thơm. Khách vừa ngồi trên salon, liền có một
cô xẩm khá đẹp, trong bộ xường xám
Thượng Hải bó sát lấy thân h́nh cân đối,
người cao ráo, chân thon, dài xuất hiện, mỉm
cười. Khách cảm thấy mê mẩn tâm thần
v́ cảnh sắc cứ thay đổi luôn khó biết
trước . Cô xẩm lễ phiép bưng lên một
mâm đặt trước mặt khách, trên đó có chén trà
sâm để khách giải khát, tăng cường sinh
lực. Kế bên là một dĩa bàn, trên có
đựng sẵn một khăn mặt c̣n nóng, tẩm
dầu thơm để khách lau mặt cho sảng khoái, và
tận hưởng cái hương vị ngây ngất,
quyến rũ cao sang dành cho giới thượng
lưu. Khách c̣n đang mơ màng, chợt một cô gái
khác xuất hiện, cúi đầu kính mời khách lên
lầu. Một thiếu nữ kiều diễm sẵn
sàng, y phục bằng lụa mỏng, khêu gợi, đón
khách an toạ. Rồi họ dọn ra một mâm
đặc sản thuộc loại sơn hào hải
vị: một chén yến hột gà chưng với sâm,
đường phèn, một con bồ câu ra ràng chưng
với yến để khách tăng cường sức
khoẻ. Bồ câu ra ràng là loại bồ câu mới
nở, mềm, bổ để cho những vị khách
răng rụng xếu xáo không nhai thịt được
. Ăn xong, khách được mời qua một pḥng
tắm sang trọng với nước nóng pha dầu
thơm. Trong khi đó, một cô xẩm mặc áo quần bó
sát hướng dẫn khách tắm (v́ nhiều người
ở nhà quê, không biết cách sử dụng ṿi nước,
bồn tắm và sau đó, khách được mời thay
một bộ đồ ngủ (pyjama) bằng lụa Lèo
cho thoải mái. Nếu may mắn, sau màn ấy, khách
được ôm ấp người đẹp Ba Trà trong
một pḥng ngủ khác sang trọng như nữ hoàng.
Tuy
nhiên, phần lớn các công tử, giới ăn chơi vào
tới đây, chỉ được cô Tư Nhị, cô
Quế Anh...tiếp mà thôi, cô Ba Trà ít khi tiếp họ.
Nhiều người không được gần cô Ba,
nhưng sau khi về cũng khoe rằng "đă ngủ
với huê khôi Ba Trà", để tỏ ra ḿnh là khách
ăn chơi sành điệu. Có người không
được gần cô Ba Trà, khi về gieo tiếng oán,
chớ cô Ba lúc ấy đang lên như diều gặp gió,
các công tử phong lưu như cậu Tư Phước
George , cậu Ba Qui, cậu Bích mới là người t́nh
của cô.
Thời
kỳ ở Nguyệt Tiên Cung, nhan sắc cô Ba thêm lộng
lẫy. Mỗi ngày cô mặc một bộ đồ
khác nhau, ngây thơ như nữ sinh trong trắng, con nhà
lành. Có lúc cô "lăng xê" mốt mặc quần
và áo dài cùng một loại hàng mỏng, thứ đắt
tiền, cùng màu. Trên cổ cô c̣n choàng một khăn
voan lụa, ngồi xe du lịch mui trần, mà hồi
đó chưa có ai xinh đẹp vừa sang trọng qúi phái
như cô Ba.
Vướng
vào con đường cờ bạc, cô Ba thường lui
tới các ṣng bài ăn thua lớn như các ṣng bài của
thầy Sáu Ngọ ở Chợ Lón, thầy Sáu Nhiều,
ṣng thầy Bảy Phương ở đường
Caribelli, đó là khách sạch Đỗ Văn B́nh Hôtel
Confortable. Chỗ nầy cũng thu hút nhiều tài
tử, khách văn chương, nhà văn, nhà báo v́
thường có tổ chức "đờn ca ra
bộ", tiền thân của ca kịch Cải
Lương miền Nam. Thập niên 1910-1920... khách sang
từ lục tỉnh về chơi, thường đi tàu
ghé Mỹ Tho ngủ một đêm.. Hôm sau họ lên xe
lửa đi Sài G̣n . Chuyến về họ cũng ghé
trạm chuyển tiếp Mỹ Tho nên chợ Mỹ Tho là
chốn phồn hoa đô hội, chỉ thua Sài G̣n mà thôi.
NgườiTây
phương thường quan niệm học vấn góp
phần h́nh thành nhơn cách con người. Nhơn cách
gồm hai phần: lương tri và lương năng.
Không học mà biết gọi là lương năng. Có
học mới biết gọi là lương tri. Cô Ba là
người đẹp nhưng thiếu học, cho nên bên
ngoài cô có vẻ là một người quư phái, nhưng cô
ăn nói vụng về, có khi cộc lốc, vô duyên,
nhưng v́ mọi người đều mê say sắc
đẹp củ cô, nên đối với những câu
đối đáp thiếu văn hoa ấy , họ cho là
chân thành. Thậm chí có nhiều lúc cô ăn nói sẳng
lè như ra lịnh, nhưng khách đa t́nh vẫn mê cô
như điếu đổ. Chính cô cũng thú nhận
điều đó. Nhiều người đối
với cô ơn nghĩa tràn đầy, nhưng cô
đối với họ bằng sự "đoản
hậu". Mối t́nh chênh lệch giữa cô và bác
sĩ Án là một thí dụ điển h́nh.
Trước t́nh yêu, ḷng khoan dung độ lượng
của một lương y, săn sóc, chu cấp tiền
bạc "thi ân bất cầu báo" với thái
độ của người quân tử, nhưng cô đáp
lại bằng thái độ của người vong ơn
bội nghĩa. Đàn ông có nhơn t́nh, ai cũng ghen,
cũng ích kỷ, nhưng mỗi người phản
ứng một cách khác nhau tùy bản lănh và nhân cách của
người ấy. Bác sĩ Án là một người
cao thượng, "ăn không được th́ buông"
chớ không phải "ăn không được th́
khuấy cho hôi" như bao nhiêu người tầm
thường khác.
Để
độc giả có một cái nh́n liên tục về
cuộc đớ của "huê khôi Nam Kỳ, cô Ba Trà"
nầy, chúng tôi xin nhắc lại những biến cố
chánh. Trong cuộc du hí Vũng Tàu, đầy thất
vọng và buồn thảm trở về, bác sĩ Án
nhất định trả tự do cho người
đẹp. Trước một người
đẹp như hoa nở, như trăng mới lên. ông
lương y cảm thấy ḿnh có tuổi, không
tương xứng, nên không c̣n theo đuổi cô Ba
nữa. Xung quanh cô, hiện thời có biết bao nhiêu
công tử hào hoa theo đuổi, chỉ mong cô ban cho chút t́nh
lẻ. Dù giàu có, lương ông bác sĩ nọ với
các công tử nào có thấm ǵ. Hơn nữa cô Ba đâu
có chịu an phận làm vợ lẽ của một
người chồng luống tuổi. Nhưng trong khi
yêu, ông bác sĩ không nhận ra điều đó. Trong
t́nh yêu, người ta ích kỷ, nhưng ông bác sĩ
nầy cao thượng. Con chim quư đă xổ lồng,
đi t́m phương trời xa lạ, mong ǵ trở
lại. Trong lúc tới lui các ṣng bài ăn thua lớn,
nhiều người tiền rừng bạc bể gặp
cô, muốn tung tiền mua chuộc làm của riêng.
Một ông hội đồng ở Rạch Gaí, muốn
"lập pḥng nh́ với cô", một hôm đem tặng
cho D́ Tư Ăng-Lê một số tiền và mượn bà
nầy làm mối. Vốn là người đàn bà
từng trải, D́ Tư nhận tiền, nhưng nói khéo:
- Chà,
việc nầy khó quá. Ông nói thẳng với
"Ba", chớ tôi đâu dám!
Nhưng
sau khi ông hội đồng cạn túi, cô Ba cũng giă
từ không lưu luyến. C̣n ông hội đồng
cũng học được một bài học kinh
nghiệm nhớ đời.
Cô Ba Trà
lập Nguyệt Tiên Cung là nhờ người mái chính
họ Lương. Cũng như nhiều khách đa
t́nh, hiếu sắc khác, Lương mái chính cũng có ư
định chọn cô Ba Trà làm vợ, ăn ở lâu dài, nên
mới bỏ ra một số tiền lớn mướn
phố, để xây tổ uyên ương với
người đẹp. Rốt cuộc:
"Uổng
công xúc tép nuôi c̣,
Nuôi cho
c̣ lớn, c̣ ḍ c̣ bay."
Cái
tổ uyên ưong ấy chính là "cái tổ quỷ"
của bọn công tử, nhà giàu, chớ phải nào là
của riêng Lương mái chính!
Chỉ
một thời gian tấp nập khách phong lưu,
Nguyệt Tiên Cung bắt đầu vắng khách v́ ảnh
hưởng cuộc khủng hoảng kinh tế
đến Nam Kỳ mạnh mẽ nhứt vào năm 1932.
Nhiều đại điền chủ phá sảnh, một
số điền chủ hạng trung cũng vỡ nợ
v́ ruộng đất cầm cố không đủ tiền
chuộc, bị tịch thu. Nông dân sống nhờ
hột lúa, công chức với đồng lương
cố định, thiệt tḥi nhứt:
"Lúc
lúa hai hào (2 cắc), dân mếu máo
"Quan
ăn năm chục, vợ rầy la."
Như
vậy giá lúa từ 1 đồng 2 (năm 1928) sụt
xuống 6 lần. Chỉ những người buôn bán
c̣n giữ được phong độ, nhưng măi
lực dân chúng cũng kém đi. Tờ "Lục
Tỉnh Tân Văn" số ra ngày 23-12-1931 viết:
"Những
người có nghề nghiệp trong tay c̣n xoay quanh trong ṿng
no ấm. C̣n những người chỉ biết có
nghề cạo giấy (thơ kư, thầy thông ngôn...)
mới kiếm tiền làm sao? Đi bán hàng rong cũng
lỡ mà đi khuân vác cũng rầy. Ấy là hạng
trí thức thất nghiệp. C̣n những học sinh có
bằng Thành Chung, cũng đành bó gối, công sở không
mướn và tư sở cũng không dùng."
Một
thức giả khác, ông Cao Sơn, làm một bài thơ
tả cảnh Sài G̣n trong thời kỳ khủng hoảng
kinh tế, đăng trên báo "Đồng Nai" ngày 1
tháng 3 năm 1932:
"Trải
mấy tang thương luống ngậm ngùi,
Sài Thành
phong cảnh có chi vui?
Phố
phường ngang dọc, ai buôn bán?
Đường
sá dập d́u khách tới lui.
Vinh
mặt, múa men phường mọt nước,
Chau mày
ngất ngưởng bạn thương đời.
Lần
xem Việt sử thêm ngao ngán,
Bảy
chục năm qua lắm đổi dời."
Chỉ
trừ một số ít công tử c̣n phong độ,
hầu hết các nhà giàu đều bị ảnh
hưởng cuộc khủng hoảng kinh tế
nầy. Thời gian nầy cậu Tư Phước
George đă lập gánh hát Huỳnh Kỳ để làm
người t́nh của các cô đào kiều diễm, lưu
diễn khắp miền lục tỉnh. C̣n cậu Ba
Qui, sau một thời gian theo cô Ba Trà, bây giờ cũng
đă chán, t́m các cô gái nửa chợ nửa quê nhưng có
thân h́nh rắn chắc để bắt bồ.
MARIANE LÊ THị NHị
Cô
Tư Nhị là gái làng chơi hạng sang, nổi tiếng
một thời với cô Ba Trà. Chính cô Ba Trà thuật
lại cuộc gặp gỡ lần đầu tiên với
Tư Nhị trong hồi kư. Lần đó, cô
đến coi hát tại rạp hát của ông hội
đồng kiêm bầu gánh Lương Khắc Ninh, chỗ
đó sau nầy là rạp Kim Châu, được gặp
Tư Nhị một dịp hết sức t́nh cờ.
Cô kể lại:
"Một
hôm, tôi buồn quá, thả cu ky lại rạp chớp bóng
Cầu Muối, gọi rạp ông Bầu Ninh". Lúc
nầy, cô đang cặp với một kép mới là công
tử Bích người Trà Vinh đang nằm khám v́ tội
không tiền trả nợ, "tôi bơ vơ phải
về với anh chồng Tây Franchini. Phim đang
diễn, bỗng tôi nghe từ đàng sau có tiếng thanh tao
mời mọc:
-
Mời cô Ba hút với em một điếu thuốc!
Tôi
đáp nhỏ:
- Cám
ơn cô, tôi không biết hút thuốc!
Bỗng
cô kia nói tiếp và rất rơ:
- Thôi mà
cô Ba. Hút cho em một điếu để làm quen mà!
Tại cô chưa biết em, chớ em đă biết cô
từ lâu. Má em thường nhắc đến tên cô
hoài và thường dạy em:"Thà làm đĩ, ra chơi
bời như cô mới đáng gọi là gái ngoan."
Trời
đất ôi, thật là một câu sét đánh ngang tai.
Nếu tôi biết trước sự việc như
vậy thà ở nhà c̣n hơn. Đi coi hát làm chi
để nghe chưởi một tiếng nóng phừng da
mặt. Cả mấy người ngồi gần tôi
đều day mặt lại ḍm tôi, làm tôi càng thêm mắc
cở. Phim đang chiếu, nhưng tôi bực quá, xô
ghế đứng dậy ra về. Ra tới xe,
chưa kịp leo lên, th́ cô gái mời hút thuốc lá cũng
vừa theo ra. Không ai mời, cô nhảy phóc lên xe,
ngồi và nói tỉnh bơ:
- Nhà cô
Ba ở đâu? Cho em về theo với!
Nh́n
kỹ cô gái, tôi đổi giận làm vui. Đây là
một cô gái mơn mởn đào tơ, tṛn trịa như
con chim chàng nghịt, óc cau đầu mùa lúa trổ, ngực
tṛn căng như muốn xé hàng sọc dưa rằn ri tung
ra. Trán cô thấp, có mớ tóc xoăn quăn che lúp xúp,
ngỗ nghịch nhiều hơn phục tùng. Cặp
mắt cô mơ mộng, t́nh tứ, nửa mời mọc,
nửa khiêu khích, đúng là "một con đĩ mén mặt
dày" ăn nói như hồi năy, nhưng mặn ṃi, duyên
dáng một cách rừng rú, khiến tôi không giận
được với "con ba trợn" nầy."
Sau rơ lại cô Tư Nhị từ Nam Vang xuống, cha
người Tiều, mẹ người Miên nhưng
từng ở Sa Đéc (có tài liệu nói rằng cô Tư
Nhị cha Miên, mẹ Việt). Từ ngày cô Tư
Nhị về ở chung, nhà tôi càng rậm rật khách phong
lưu. Trai lối xóm đón đường chọc
ghẹo Tư Nhị hàng đêm. Sở dĩ Tư
Nhị có tên Tây Mariane Lê Thị Nhị cũng có giai
thoại, cô Ba Trà kể tiếp:
"Một
hôm tôi và Nhị với Franchini đi coi chớp bóng thấy
trên màn ảnh có một nữ minh tinh duyên dáng, có nhiều
nét giống Tư Nhị, nên Franchini, vốn có cảm t́nh
với Nhị, lấy tên cô ấy là Mariane mà đặt cho
Nhị: Mariane Lê Thị Nhị, c̣n tôi Yvette Trà. Sẵn
tôi thứ ba, thắng gọi Nhị là Tư như một
người em tôi. Franchini vốn có máu mê đàn bà nên
lúc cô Nhị ở chung, hắn cũng trổ ṃi
"dê". Tuy nhiên Franchini có lúc bực ḿnh với
Tư Nhị v́ tập làm gái hạng sang, nhưng Tư
Nhị vẫn c̣n nhiều thói nhà quê, cục mịch.
Lúc
về Nguyệt Tiên Cung, Ba Trà cũng đưa Tư
Nhị về ở chung. Về sau, cô Ba Trà đóng vai
một tú bà hạng sang. Số là có một công tử
G̣ Đen tới Nguyệt Tiên Cung chơi, "cảm"
Tư Nhị, đề nghị đưa Trà 10,000
đồng rồi dẫn Nhị đi lập tổ uyên
ương. Công tử nầy mua cho Tư Nhị
một căn phố trệt, có đầy đủ bàn
ghế, nằm ở góc đường Verdun và Richaud,
tức góc đường Phan Đ́nh Phùng và Lê Văn
Duyệt trước năm 1975.
Tuy
vậy, Tư Nhị đâu muốn làm người vợ
hiền và an phận với cuộc sống. Như
ngựa quen đường cũ, chỉ được
ít tháng, Tư Nhị chán công tử ấy, cặp bồ
với người khác. Tư Nhị cũng là một ngôi
sao sang trọng trong giới ăn chơi hồi đó,
chỉ thua Ba Trà. Xuất thân làm đào hát, nhờ có
thân h́nh quyến rũ, có sắc đẹp, nhưng
giọng ca khàn khàn không hay, Tư Nhị chỉ thích làm t́nh
nhơn của những ai giàu có, dám chi tiền không
tiếc. Ban đầu Tư Nhị đầu quân
dưới trướng cô Ba Pho, tức Joséphine Lệ
Ngọc trước khi qua làm đàn em của cô Ba Trà.
Tưởng cũng nên nói qua về lư lịch cô Ba Pho.
Đương
thời, cô là người đẹp thuộc vào hạng
đối tượng của các công tử phong
lưu. Cũng như các người đẹp
nổi tiếng đương thời khác, đi đâu cô
Ba Pho cũng có một vệ sĩ đi kèm. Trong các
người đẹp ăn chơi lúc đó, cô Ba Pho là
người khôn ngoan, biết giữ ǵn nhan sắc và
tiền của, giống như trường hợp "bà
chúa đĩ Bắc Hà" tức cô Tư Hồng. Tôi
nghe kể lại một giai thoại về cô Joséphine
Lệ Ngọc nầy, nhưng không quả quyết đúng
hay sai:
Hồi
năm 1956, tôi có đến chơi và ăn ở trên
lầu nhà xuất nhập cảng xe đạp
"Trần Chi" , đại lộ Tổng Đốc
Phương Chợ Lớn. Người chủ nhà,
tức ông Trần Chi cho biết:"Cô Ba Pho tức Joséphine
Lệ Ngọc, một trong những người
đẹp ăn chơi nổi danh của đất Sài
G̣n hồi thập niên 1840, cô có biệt danh là "cô Tư
Dái", không rơ nguồn gốc của hai chữ nầy ra
sao. Cuối thập niên 1950, gia đ́nh cô mua lại
rạp chớp bóng cũng gần hăng xuất nhập
cảng xe đạp "Trần Chí", sửa chữa
lại lấy tên mới "rạp chiếu bóng Victory
Lệ Ngọc", nằm trên đại lộ Tổng
Đốc Phưong, dân chúng thường gọi là rạp
Lệ Ngọc.
Chiều
chiều, người Sài G̣n thỉnh thoảng củan
thấy Tư Nhị, ngồi xe du lịch lượn quanh
Sài G̣n, nay với công tử nầy, mai với thanh niên
khác. Khi th́ ngồi xe Hotchkiss với công tử G̣
Đen, khi th́ đi tắm suối Xuân Trường với
công tử Như Bích, con một đại điền
chủ ở Bạc Liêu. Cuộc đời của Tư
Nhị là một chuỗi những ngày ăn chơi trác
táng, những cuộc truy hoan thâu đêm, không biết
giữ ǵn sức khoẻ và cũng không biết ngày
mai. Bắt chước "mốt" ăn chơi
của các tài tử điện ảnh bấy giờ,
Tư Nhị cũng ngậm ống điếu thật
dài, để tạo ra một phong cách thanh lịch và quư
phái. Nhiều đêm cô ngả bên bàn đèn, mơ màng tận
hưởng sự khoái lạc của "nàng Phù
Dung". Nhiều ông huyện trẻ, cũng
đến nạp tiền cho cô, để được
gần người đẹp cho biết mùi
đời. Nhờ hoàn cảnh sống chung với cô
Ba Trà mà Tư Nhị được nhiều công tử
tiền rừng bạc biển chú ư, và cuộc đời
của cô bay bổng như diều gặp gió.
Cũng
giống như cô Ba Trà, Tư Nhị không biết lo xa.
Cô ỷ ḿnh sức khoẻ, cứ phung phí bằng cách hút
thuốc phiện, thuốc lá thả giàn, ăn chơi
suốt đêm, cho nên cuộc đời thâu ngắn.
Càng luống tuổi, cô càng khốn đốn v́ con ma
thuốc phiện hành hạ. Cuộc đời cô
xuống dốc quá nhanh.
Độc
giả có thể đoán trước cuộc đời cô
Tư Nhị về cuối đời ra sao không ? Cụ
Vương Hồng Sển thuật lại:
"Gần
đây, vào tháng bảy năm 1982, tôi có gặp lại
bạn cũ là anh Ba Quan, một tay chơi lịch
duyệt trong giới cầm ca. Anh Ba Quan kể lại
sau năm 1945 hay 46 ǵ đó, tiền hết, c̣n tiền
giấy 500 của chính phủ mất hết giá xài, trong
ḿnh anh c̣n độ 100 bạc, vừa đói, vừa khát,
anh lết trở về Sài G̣n . Một buổi sáng, anh
làm gan, ra đường phố vắng hoe, không một
bóng người . Anh thả lần tới Chợ
Cũ, đường George Guyemer (nay là Vơ Di Nguy) ăn
điểm tâm xong, bước ra cửa, đưa tờ
giấy xăng, chưa kịp lấy lại tiền
lẻ, bỗng nghe có tiếng người gọi:
- Anh Ba!
Giựt
ḿnh quay lại, không thấy ai cả, trừ năm ba
người hành khất dơ dáy. Quan nói trong
bụng:"Ai kêu ḿnh vậy cà?". Rồi nghe một
giọng nói tiếp theo:
- Anh Ba,
em là Tư Nhị đây!
Quan nh́n
không ra v́ đứng trước mặt là một
người đàn bà ăn mày, không c̣n h́nh thể con
người . Hai chưn sưng và băng bó bằng
lớp vải máu mủ, ruồi bu đầy, mặt
đổi sắc, môi thâm đen. Quan không dám ngó lâu, rút
tờ giấy 20 đồng, đặt nhẹ vào ḷng bàn
tay, rồi đi thẳng một nước ."
Tới
đây tôi cũng nhớ đến cô Cẩm Nhung, một
vũ nữ tài sắc, nổi danh một thời của
các vũ trường Sài G̣n hồi những năm cuối
thập niên 1950, từng làm say mê biết bao công tử.
Cẩm Nhung có một sắc đẹp năo nùng, cuộc
sống giàu sang nhung lụa v́ nhiều người đua
nhau cung phụng tiền bạc. Kể từ khi cô bi
một người đàn bà đánh ghen, tạt át-xít vào
mặt, nhiều người nghe báo chí đăng tin
ấy, đều bùi ngùi thương cảm. Bẵng
đi vài năm, tôi có dịp đi qua bắc Mỹ
Thuận, nghe một người đàn bà ăn mày có
giọng ca năo nùng ai oán. Tôi bước lại gần
để tặng cho người ấy một số
tiền nhỏ. Trời ơi, người đàn bà
ấy có khuôn mặt một ác quỷ, mặc bộ bà ba
đen cũ rách, trên ngực có đeo tấm bảng
"vũ nữ Cẩm Nhung". Tôi sững sờ một
lúc lâu ...
C̣n cô
Quế Anh, một người con gái đẹp, lăng
mạn, từng ăn chơi phóng túng đất Sài G̣n
hồi thập niên 1930. Quế Anh là một
người lai, cha Tiều, mẹ Việt, gia đ́nh buôn bán
khá giả. Cô bỏ đi giang hồ v́ tánh lăng mạn
chớ không phải v́ thiếu thốn hay nghèo. Hồi
đó cô đang theo học trường "áo tím" (Gia
Long sau nầy). Cô Quế Anh đẹp, thông minh, ăn
chơi nhưng lại là người có tâm hồn.
Trong cảnh trụy lạc, cô vẫn c̣n chút liêm sỉ và
danh dự. Từ lúc sa ngă vào chốn ăn chơi,
cũng như Tư Nhị, cô sung sức, cặp kè với
bất cứ ai có tiền. Người ta biết
tới tên cô khi cô đóng vai Lư Ngọc Thơ trong vở
tuồng "Tối độc phụ nhơn tâm",
diễn liền tiếp ba xuất hát làm nghĩa vào năm
1923. Lư Ngọc Thơ đă làm khán giả mê mẩn tâm
thần. Kể từ đó, cô Quế Anh ăn chơi
theo sở thích. Cũng bài bạc, thuốc phiện là
những cái mốt thời thượng lúc bấy
giờ. Nhiều ông kỹ sư, bác sĩ từ bên Tây
về, gặp cô mê ngay và làm người t́nh trong giai
đoạn. Cô thay đổi nhơn t́nh như thay áo,
cũng lên xe xuống ngựa một thời. Tiếc
thay số mệnh cô ngắn, có phải v́ "tài mạng
tương đố" chăng?
Về
sau, khi nhan sắc vào thu, tuổi khoảng 40, ong
bướm chán chường, cô trở nên một
người thất chí, sống trong cảnh nghèo lại mang
bịnh ghiền. Cụ Vương Hồng Sể tâm
sự rằng cụ cũng mê cô một thời. Lúc
nhan sắc tàn phai, gặp lại cụ, cô nói:"Tuy
thương anh, nhưng không thể sống với anh
được v́ em không xứng đáng." Sau đó, cô
Quế Anh có tặng cụ một bài thơ bày tỏ tâm
sự:
"Một
bóng đèn khuya khắc lụn vơi,
Tàn canh,
say tỉnh, giận thay đời.
Bụi
hồng lắm lúc, c̣n mưa nắng,
Má
phấn nhiều phen chịu lấp vùi.
Cầm
sắt những ngờ xui lá thắm,
Tang
thương âu hẳn phận bèo trôi.
Nào
người chung đội trong trời đất,
Gang
tấc nầy xin nhắn một lời."
CHUỘC NGẢI XIÊM
Nam
Kỳ là đất cũ của người Miên.
Người Miên và Xiêm cùng chịu ảnh hưởng
văn hoá Ấn Độ, cùng theo Phật giáo Tiểu
Thừa hay Nam Tông. Trong khi từ miền Trung trở ra
Bắc nước ta chịu ảnh hưởng văn
minh Trung Hoa, theo Phật giáo Đại Thừa hay Bắc
Tông. Thừa là cổ xe. Tiểu Thừa là
cổ xe nhỏ, ví dụ như chiếc xe đạp,
chỉ chở được một người . Đại
Thừa là cổ xe lớn, chở được
nhiều người , ví dụ như xe du lịch, xe
buưt. Phật giáo Tiểu Thừa theo triết lư
"như đi chiếc xe nhỏ, ta tu một ḿnh theo
đường lối khổ hạnh. Khi nào bản
thân được siêu thoát đắc đạo, trở
lại cứu vớt chúng sinh". Trái lại, tu theo
Đại Thừa, tức đi xe lớn, vừa đi
đường vừa chở kẻ khác quá giang. Tu
theo Đại Thừa là vừa tu hành vừa cứu giúp
những người nghèo khổ. Những
người tu theo Đại Thừa thường ở
chùa có của cải để bố thí, mặc áo nâu ṣng,
vừa tu vừa làm việc từ thiện giúp
đời. Phật giáo Đại Thừa truyền
từ Ấn Độ qua phương Bắc tới
Miến Điện, Trung Hoa, Nhựt Bản vào Việt Nam
...nên ta gọi là Bắc Tông. Phật giáo Tiểu
Thừa truyền bá theo phía Nam qua Tích Lan, Thái Lan, Cao Miên, Lào
rồi vào Việt Nam nên gợi là Nam Tông. Kinh sách
Phật giáo Đại Thừa viết bằng chữ
Phạn Sankrit và kinh sách Phật giáo Tiểu Thừa
viết bằng tiếng Nam Phạn Pali. Văn
minh Ấn Độ có nhiều điều huyền bí, khó
lư giải.
Dân chúng
Nam Kỳ thường nghe nói hoặc chứng kiến
những tác dụng của bùa, ngải, thư, ếm.
Giới trí thức hay người b́nh dân cũng
đều nh́n nhận việc đó, và cho rằng bùa
ngải có sức mạnh thiêng liêng, vô h́nh, làm hại
người, bảo vệ người, hoặc có tác
dụng mê hoặc kẻ khác.
Quê tôi
từ lâu ở gần các sóc người Miên, mà dân làng quen
gọi là người "Thổ". Chữ
"Thổ", có lẽ để chỉ thổ dân,
tức người địa phương, chủ nhân ông
của lănh thổ nầy . Quê tôi cũng có một ngôi
"chùa Thổ" tên Sanghamangala, nằm tại ngă ba quán
An Nhơn, trên con đường liên tỉnh Vĩnh Long
đi Trà Vinh. Theo một tài liệu cũ cho biết
"chùa Thổ" nầy xây dựng vào năm 1339, là
một trong những ngôi chùa cổ nhứt Nam Kỳ.
Trước khi nói tới tác dụng của bùa ngải, tôi
xin nhắc lại một kỷ niệm mà tôi biết rơ.
Tôi có
một người bạn vào năm 1964 mới tốt
nghiệp trường Bộ Binh Thủ Đức.
Anh được đổi về Trà Vinh, đơn
vị đóng gần phi trường. Xung quanh đó có
nhiều sóc Miên ở lâu đời. Nơi đây
người bạn tôi có giao du thân mật với một gia
đ́nh người Miên địa phương. Qua
nhiều lần ăn uống, nhậu nhẹt chung,
người Miên ấy có nhă ư tặng bạn tôi một
miếng Cà Tha (h́nh vuông, mỗi cạnh chừng 1cm5
bằng vải, bên trong có đựng bùa). Người
Miên ấy dặn bạn tôi:"Anh cứ đeo miếng
Cà Tha nầy. Nó sẽ là bùa hộ mạng cho anh trong
lúc nguy hiểm". Nể bạn, anh ấy đeo vào
cổ và giữ ǵn kín đáo, sợ bạn đồng
ngũ chê cười. Có một lần anh đang hành
quân ở Tiểu Cần, trận đánh đẫm máu
vừa kết thúc. Tiếng súng vừa im, bạn tôi
cùng người lính cận vệ bắt đầu
cuộc lục soát chiến trường. Khi
đến một bụi rậm, th́nh ĺnh một loạt
tiểu liên bắn ra. Anh bạn tôi té sấp, máu ra linh
láng. Người cận vệ liền quạt cho tên
Việt Cộng một tràng M16. Hắn gục
đầu đền tội. Trong lúc khiêng
người bạn tôi về vị trí cứu thương,
th́ bác sĩ nhận ra được một điều
hết sức kỳ diệu: người bạn ấy
bị bắn trúng ngực, nhưng nhờ xâu ch́a khoá mà anh
bỏ túi trên nên không viên đạn nào xuyên qua tim
cả. Anh bị thương nhưng khỏi bị
mổ v́ các vết đạn đều tạt ngang.
Lần ấy anh nằm bịnh viên gần một
tháng. Sau nầy anh tâm sự:"Không hiểu là một
điều may mắn hay có một sức mạnh siêu nhiên
nào cứu anh khỏi chết". Bây giờ anh định
cư bên California. Tôi kể lại câu chuyện ấy
để tùy độc giả phán xét.
Khi nói
tới những người đàn bà hay dùng bùa, ngải yêu
làm cho đàn ông mê hoặc, tôi chưa biết và cũng không
có kinh nghiệm. Chúng tôi chỉ thuật lại
những điều nghe nói. Trường hợp cô Ba
Trà có kể lại chuyện cô đi Xiêm chuộc ngải
để được đàn ông cho tiền nhiều, v́
lúc bấy giờ kinh tế khó khăn, mà cô th́ như hoa
đă măn khai. Tôi cũng có nghe đồn nhiều
chuyện bùa, ngải gieo tai họa cho người lành
ở các tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng, Châu Đốc...
Họ bỏ bùa cho con gái bỏ nhà theo trai, đàn bà goá gom
góp tiền bạc cuốn gói theo tiếng gọi của ái
t́nh, theo "người có cầm ngải".. Huê khôi Ba
Trà từng nói:
"Đàn
bà chuộc ngải và cầm ngải, th́ bọn đàn ông,
con trai có tiền mới mê ḿnh."
Sau khi
Nguyệt Tiên Cung vắng khách lần thứ hai, nhơn t́nh
ít lui tới. Các công tử th́ lặn như sao đêm
30. Đàn ông trăm người như một. Ai
cũng muốn t́m của lạ. Lúc muốn th́ muốn cho
được, khi no đủ rồi th́ chán chê, đi t́m
của mới khác. Thua buồn, cô Ba Trà mới nghĩ
cách đi chuộc ngải để có tiền. Theo cô
biết muốn cầm ngải th́ phải là ngải Xiêm
mới có hiệu quả cao hơn bùa ngải Miên. V́
vậy, cô quyết t́m cách qua Xiêm.
(Lời
cô Ba Trà...) "Lúc ấy tôi thật manh giáp chẳng
c̣n. Anh Lương mái chính ở Chợ Lớn mà
cũng chẳng ra thăm. Nợ nần tứ
tung. Nguyệt Tiên Cung vắng khách. Vắng hơn
chùa Bà Đanh. Chà chetty than hết tiền, không cho
tôi vay nữa. Các công tử th́ lặn mất
hết. Nằm gác tay lên trán, tôi nhớ lại cứu
tinh của tôi là chị Hai Tóc Đỏ, năm xưa
thường khoe bùa ngải với tôi. Nay tôi nhớ
đến chị mà quyết tâm t́m chị để
nhờ dẫn đi Xiêm chuộc ngải. Hỏi
thăm, tôi được biết bây giờ chị Hai Tóc
Đỏ có chồng đang ở bên Xiêm, tôi quyết qua
bên ấy, níu lưng chị cầu cứu.
"Nói
chí t́nh, chị Hai Tóc Đỏ đối với tôi
rất ngọt. Trong buổi đầu ở xứ
lạ, chị Hai Tóc Đỏ đă giúp tôi được
gặp vị sư cho ngải của thủ đô Xiêm, lúc
ấy là Bangkok. Tôi cũng nhắc lại ở đây
rằng, số tôi hên, tới đâu cũng được
quới nhơn giúp đỡ, đúng như lời ông
thầy bói Vi Kính Trang đă nói. Lần đầu
xuất ngoại, tôi không rành thủ tục, cứ
tưởng đi Xiêm cũng như qua Miên, không cần
giấy tờ ǵ. Khi tôi vừa từ Sisophon
vượt qua biên giới tới Xiêm, bị lính biên pḥng
bắt, giải giao cho Toà Lănh Sự Pháp ở đây".
Xiêm là
tên cũ của Thái Lan và đổi tên chánh thức thành
Thái Lan năm 1939, dưới thời Thống Chế Pibun
Songram làm Thủ Tướng. Thủ đô Bangkok
nằm bên bờ sông Chao Praya, thành lập năm 1780.
C̣n triều đại trị v́ nước Xiêm hay Thái Lan
là Chakri cũng thành lập năm 1872 tức là trước
khi vua Gia Long thống nhứt đất nước 20
năm! Các vua triều đại Chakri đều lấy
đế hiệu Ram. Vua hiện tại, Bhumibol
Adulyadej là Ram đệ Cửu.
"Vừa
bị giải giao tới Lănh Sự Pháp tại Bangkok - lời
cô Ba Trà - tôi được một thanh niên Việt cao
lớn, đẹp trai, đang làm việc tại đây,
niềm nở hết sức. Tôi có cảm
tưởng như người quen lâu ngày mới gặp
lại. Người đó là anh Đỗ Hữu Trí,
con thứ của ông Tổng Đốc Đỗ Hữu
Phương. Ông Phương là người giàu thứ
nh́ ở Nam Kỳ hồi đầu thế kỷ
nầy. Dân Sài G̣n thường truyền tụng
câu:"Nhứt Sĩ, nh́ Phương, tam Xường,
tứ Định". Giàu hạng nhứt là ông
Huyện Sĩ, ông ngoại vợ Hoàng Đế Bảo
Đại; thứ nh́ là Đỗ Hữu Phương; thứ
ba là bá hộ Xương, tên Lư Tường Quang; thứ
tư hộ trưởng Định. Đỗ Hữu
Phương có nhiều người con du học bên Tây
rất sớm: Đỗ Hữu Vị, phi công đầu
tiên của Việt Nam . Đỗ Hữu Chuẩn,
trung tá trẻ tuổi nhứt trong quân đội Pháp.
Đỗ Hữu Trí, làm trong Lănh Sự Quán Pháp tại
Bangkok từ năm 1933. Sau đó Trí đổi
nhiệm sở, sang làm cho Lănh Sự Quán Pháp tại
Singapore. Đỗ Hữu Phương có một
người con gái gả cho Hoàng Trọng Phu, con của
Tổng Đốc Hà Đông Hoàng Cao Khải, người
giàu có và danh giá nhứt Bắc Kỳ thời đó. Ông
Hoàng Cao Khải có công với Pháp, được Pháp và
triều đ́nh Huế phong Duyên Mậu Quận Công.
Đề nghị của Pháp cho ông làm Phó Vương
Bắc Kỳ về đến triều đ́nh Huế,
bị Thượng Thư Cao Xuân Dục bác bỏ, nhưng
dân chúng vẫn nịnh bợ, gọi ông là Phó Vương.
Vào ngày 20 tháng 4 năm 1919, Hoàng Cao Khải tổ chức
ăn lễ thất tuần, được Pháp tặng
Bắc Đẩu Bội Tinh, triều đ́nh Huế gia
phong Khâm Sai Kinh Lược Đại Thần. Gia
đ́nh Hoàng Cao Khải được dân chúng truyền
tụng "một nhà ba Tổng Đốc":
- Hoàng
Cao Khải: Tổng Đốc Hà Đông,
- Hoàng Trọng Phu:
Tổng Đốc Nam Định,
- Hoàng Mạnh Trí :
Tổng Đốc Hà Đông (thế cha)
Gặp
cô Ba Trà, Đỗ Hữu Trí như bị hớp
hồn. Gái đẹp gặp trai đa t́nh như cá
gặp nước. Vụ án nhập cảnh lậu,
chỉ mấy ngày sau cô Ba Trà trở thành khách du lịch
đầy đủ giấy tờ hợp pháp, nhờ
sự lo lắng của Đỗ Hữu Trí. Chính
Đỗ Hữu Trí tự ḿnh lái xe đưa cô Ba Trà du
lịch, xem hoàng cung, thắng cảnh quanh châu thành
Bangkok. Cuối cùng, sau khi cô Ba Trà t́m được
chị Hai Tóc Đỏ, để nhờ dẫn đi
chuộc ngải, th́ Đỗ Hữu Trí cũng lấy xe
riêng đưa cô Ba Trà về biên giới Thái Miên để
đáp xe lửa về Nam Vang.
"Như
một người vừa tốt nghiệp một
trường huấn luyện, tôi về Sài G̣n với
niềm tin mới. Nhiều người thân tín báo
với tôi rằng Nguyệt Tiên Cung đang bị con nợ
bao vây. Trưởng toà đă được đơn
các thân chủ thưa, sẵn sàng lập biên bản khi
thấy mặt tôi để "giải ra toà", và
tịch biên đồ đạc. Họ định
cho tôi vào khám "giam thâu", chờ chừng nào trả
đủ tiền th́ mới được tự do.
Nếu sự việc xảy ra như vậy, c̣n ǵ thể
diện của tôi? V́ lẽ đó, khi về Sài G̣n , tôi
tạm lánh mặt trong Hôtel des Nations ở đường
Charner. Chỗ tôi ở chỉ có người tài xế và
một đứa ở trung thành biết mà thôi... Họ có
bổn phận báo cáo tin tức bên ngoài. Tôi chỉ
xuống lầu ăn cơm vào giờ khách sạn vắng
thực khách th́ người tài xế riêng mới lên
mời tôi xuống dùng cơm. Cơm nước xong,
tôi lại rút về pḥng nằm đợi thời.
"Mấy
hôm sau, tôi đang ngồi dùng cơm trưa tại pḥng
ăn của khách sạn Hôtel des Nations, trong lúc vắng
khách. Th́nh ĺnh một người lạ mặt
xuất hiện, đi lại gần bàn tôi, và trao cho tôi
một danh thiếp làm tôi giựt ḿnh. Kèm theo danh
thiếp là một bao thơ có đựng tiền. Tôi
coi danh thiếp, thấy đề mấy ḍng chữ
"Lâm Ngọc Bích tự Lâm Kỳ. X, compredore Banque de
L'Indochine, chi nhánh Cần Thơ". Trong bao thơ có
100 tờ giấy xăng (giấy 100 đồng). Tôi
thắc mắc, không biết số tiền nầy là
tiền ǵ, tại sao có người đem cho tôi trong khi tôi
hoàn toàn xa lạ với tên người in trong danh thiếp?
Hồi tưởng lại, lúc ở bên Xiêm, tôi luyện
phép và van xin sự tổ pḥ hộ cho tôi được các
công tử nhà giàu mê tôi, cho tiền tôi xài. Bây giờ,
tự nhiên có tiền vô, tôi thắc mắc có phải do tác
dụng của bùa ngải, hay do công tử họ Lâm mê nhan
sắc tôi? Số tiền ấy có thể gọi là
tiền lễ ra mắt. Xin quư độc giả
nhớ rằng vào thời đó, lương đốc
phủ sứ đặc hạng sắp về hưu có 250
đồng một tháng, mà người ta dám cho tôi một
lần 10,000 đồng, quả là một số tiền to
tát đến bực nào.
Có
tiền, tôi đường hoàng trở về Nguyệt
Tiên Cung trả nợ nần và lại sống xa hoa như
trước. Khách quen mới cũ, đều biết tin,
cũng trở lại. Cách đó một tuần, tôi
được một người bạn quen dẫn
đi đổ hột "xí ngầu lác" taị
tiệm vàng bác Năm Hy, số 108 đường
Bonard. Tôi gặp vận đen , thua liên tục. Lúc
đó cũng có thành kiến "đỏ t́nh th́ đen
bạc". Sau một giờ, tôi thua sạch túi.
Tôi sai đứa bồi thân tín gọi điện thoại
xuống "Banque de L'Indochine" ở Cần Thơ
để xin 5,000 đồng. Tôi không đích thân nói
chuyện với công tử họ Lâm nầy, vậy mà 4
giờ sau, có người tài xế, trên cổ áo gắn phù
hiệu "Banque de L'Indochine, Annexe de Cần Thơ",
đem lên một bao thơ lớn, lễ phép trao cho
tôi. Mở ra, tôi đếm trước mặt: 50
tờ giấy xăng c̣n mới tinh, thơm mùi mực in.
Sau nầy tôi mới biết rơ lư lịch công tử họ
Lâm nầy. Thân phụ cậu là một nhà triệu phú
nhờ có óc kinh doanh. Đương thời, thân
phụ cậu làm chủ hăng rượu lớn nhứt Nam
Kỳ tên H.C. Cũng như hăng rượu
"Distillery Français de L'Indochine", từng làm mưa làm gió
khắp thị trường Đông Dương, nhưng
dân "nát rượu" lại thích rượu nếp
trắng của hăng H.C. ở Châu Đốc hơn.